- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bùi Linh Phụng - Nguyễn Văn Định - Vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu hởi iện của ông Bùi Linh P đối với ông Nguyễn Bình Đ và bà Hà Thị Kim H về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng d n sự; Điều 463 Bộ luật D n sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2025/DS-ST Ngày: 26/3/2025 V/v “tranh ch p h p đ ng vay tài s n” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thanh Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Duy Hiếu
2. Ông Lê Công Quyền
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Vạn Thành - Thư T a án nh n d n thị
Hòa Thành, tỉnh T y Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Du - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở, T a án nh n d n thị H a Thành ét ử sơ thẩm công hai vụ án thụ l số: 384/2024/TLST– DS ngày 11 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Theo Quyết định đưa vụ án ra ét ử số 15/2025/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 02 năm 2025 và Quyết định ho n phiên t a số 14/2025/QĐST-DS ngày 06 tháng 3 năm 2025, giữa:
- Nguyên đơn: Ông Bùi Linh P, sinh năm 1991; Địa chỉ: số nhà B, Đường N, ấp T, T, thị H, tỉnh T y Ninh.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Bình Đ, sinh năm 1973 và bà Hà Thị Kim H, sinh năm 1976; Nơi cư trú: 1 Đường N, ấp L, L, thị H, tỉnh T y Ninh. Nơi ở hiện nay: số nhà F, đường G, ấp B, L, thị H, tỉnh T y Ninh.
Tất cả các đương sự có mặt tại phiên t a.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình gi i quyết vụ án nguyên đơn ông Bùi Linh P trình bày:
Theo đơn hởi iện ngày 13/8/2024 ông Bùi Linh P trình bày: Vào ngày 07/7/2023, ông P có cho vợ chồng ông Đ và bà H vay số tiền 200.000.000 đồng. Khi vay hai bên có làm biên bản bàn giao nhận tiền và có lăn tay tên rõ ràng. Hai bên thỏa thuận l i suất 3%/tháng, ông Đ và bà H hứa 01 tháng sau sẽ trả hết một lần tiền nợ gốc 200.000.000 đồng với tiền l i.
Khi đến hạn trả nợ, vợ chồng ông Đ và bà H không trả tiền vay như đ cam ết. Ông P đ nhiều lần yêu cầu trả nhưng ông Đ và bà H hông thực hiện việc trả tiền. Ông P yêu cầu T a án giải quyết buộc ông Đ và bà H trả số tiền nợ gốc là 200.000.000 đồng và tiền l i theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình làm việc, tại Biên bản lấy lời hai, Biên bản h a giải, Biên bản làm việc ông P trình bày: Thời hạn cho ông Đ và bà H vay tiền là 01 tháng. Sau hi vay tiền ông Đ, bà H hông trả nợ cho ông P đúng hạn nhưng có trả l i cho ông P được 3 tháng với số tiền là 20.000.000 đồng sau đó hông tiếp tục trả cho ông P nữa.
Ông P thừa nhận, ngày 01/8/2024 ông Đ và bà H đồng giao cho ông P các tài sản bằng gỗ để trừ nợ là 01 bộ lục bình, 01 bộ di văng, 01 bàn làm việc. Theo ông P thì trị giá số tài sản này là 30.000.000 đồng nhưng ông P đồng giá trị các tài sản này là 50.000.000 đồng. Ông Đ và bà H cho rằng giá trị các tài sản giao cho ông P trị giá 80.000.000 đồng, ông P hông đồng . Trong trường hợp ông Đ và bà H đồng giá trị các tài sản là 50.000.000 đồng thì ông P đồng trừ vào nợ gốc, yêu cầu ông Đ và bà H trả 150.000.000 đồng tiền nợ gốc và yêu cầu tính l i theo quy định pháp luật. Trong trường hợp ông Đ, bà H hông đồng thì ông P hông yêu cầu t a án giải quyết trong vụ án này. Ông P yêu cầu T a án giải quyết buộc ông Đ, bà H trả cho ông P số tiền nợ gốc là 200.000.000 đồng và tiền l i theo thỏa thuận là 3%/tháng tính từ ngày 07/7/2023 cho đến hi nào ông Đ, bà H trả hết nợ cho ông P.
Bị đơn ông Nguyễn Bình Đ và bà Hà Thị Kim H trình bày:
Ông P và bà H thừa nhận có vay của ông P số tiền 200.000.000 đồng vào tháng 7/2023 để đáo hạn ngân hàng. Thực tế số tiền nợ 200.000.000 đồng mà ông Đ và bà H ký giấy vay cho ông P vào ngày 07/7/2023 là số tiền nợ còn lại của khoản vay 1 tỷ đồng trước đó vợ chồng ông Đ, bà H vay của ông P để làm thủ tục đáo hạn ngân hàng. Do ngân hàng chỉ giải ngân cho vợ chồng ông Đ và bà H vay được 700.000.000 đồng, vợ chồng ông Đ và bà H phải vay thêm ở ngoài để trả cho ông P được 800.000.000 đồng, c n 200.000.000 đồng vợ chồng ông Đ, bà H không có tiền trả mới viết giấy nợ cho ông P, đợi ngân hàng giải ngân tiếp thì sẽ trả nốt cho anh P. Nhưng sau đó do đất xuống giá, ngân hàng không chịu giải ngân thêm nên số nợ này còn lại đến bây giờ vợ chồng ông Đ, bà H chưa trả được cho anh P.
Số tiền nợ 200.000.000 đồng, ban đầu vợ chồng ông Đ, và bà H trả tiền lãi cho ông P mỗi tháng 20.000.000 đồng, tiền lãi trả thông qua chuyển khoản ngân hàng ngày 07/8/2023 là 20.000.000 đồng và trả trực tiếp. Vợ chồng ông Đ mất khả năng trả nợ nên ngày 01/8/2024, ông P có đến nhà vợ chồng ông Đ lấy các tài sản bằng gỗ gồm: 01 bộ lục bình, 01 bộ di văng, 01 bàn làm việc. Tổng giá trị tài sản này khi vợ chồng ông Đ, bà H mua là 80.000.000 đồng. Nay vợ chồng ông Đ, bà H yêu cầu ông P trừ số tiền 80.000.000 đồng trị giá số tài sản mà ông P đ lấy, vợ chồng ông Đ, bà H chỉ đồng ý trả số tiền còn nợ ông P là 120.000.000 đồng và tiền l i theo quy định của pháp luật.
Tại phiên t a:
- Nguyên đơn ông P yêu cầu ông Đ và bà H trả số tiền nợ là 200.000.000 đồng và l i suất theo quy định pháp luật từ ngày vay tới ngày trả hết tiền nợ.
- Bị đơn ông Đ và bà H trình bày đồng c n nợ ông P số tiền 200.000.000 đồng và đề nghị ông P cho ông Đ và bà H trả dần mỗi tháng 2.000.000 đồng do hoàn cảnh hiện nay rất hó hăn, đề nghị ông P không tính tiền l i.
- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh:
+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ l vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị ét ử và quyết định đưa vụ án ra ét ử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng d n sự.
+ Tại phiên t a, Hội đồng ét ử, Thư phiên t a thực hiện đúng trình tự, thủ tục phiên t a sơ thẩm.
+ Về nội dung: Căn cứ Điều 463, 466, 468, 470 của Bộ luật d n sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí T a án, đề nghị Hội đồng ét ử chấp nhận yêu cầu hởi iện của ông P. Buộc ông Đ và bà H trả cho ông P số tiền nợ gốc là 200.000.000 đồng, tiền l i tính theo quy định pháp luật sau hi hấu trừ hoản tiền l i mà ông Đ và bà H đ trả cho ông P. Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong h sơ vụ án đư c xem xét tại phiên toà và căn cứ kết qu tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét th y:
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ông P hởi iện yêu cầu T a án giải quyết về việc tranh chấp tiền vay nên quan hệ pháp luật được ác định là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại hoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng d n sự. Bị đơn ông Đ và bà H cư trú tại thị H nên Tòa án nh n d n thị H a Thành thụ l , giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng d n sự.
Về nội dung: Xét yêu cầu của ông P về số tiền nợ gốc 200.000.000 đồng:
Ông Đ, bà H thừa nhận có vay tiền của ông P 01 tỷ đồng để làm thủ tục đáo hạn ng n hàng do hông trả được hết tiền vay cho ông P nên ngày 07/7/2023 làm giấy vay. Chứng cứ ông P cung cấp là Biên bản giao nhận tiền ngày 07/7/2023 và do ông Đ, bà H thừa nhận là ông Đ, bà H tên và lăn tay. Về nội dung Biên bản giao nhận tiền ngày 07/7/2023 có các nội dungbên giao, bên nhận, số tiền giao nhận là “200.000.000 đ ng”, l do giao nhận là “mư n tr ngân hàng”, “ngày tr 7-8-2023”, “lãi su t hai bên thỏa thuận”. Từ các nội dung này, cho thấy thực chất Biên bản giao nhận tiền ngày 07/7/2023 giữa ông P với ông Đ, bà H là hợp đồng vay tiền có thời hạn, có thỏa thuận l i suất. Ông Đ, bà H thừa nhận c n nợ số tiền này và chưa trả nợ gốc nên có căn cứ ác định ông Đ, bà H c n nợ ông P tiền nợ gốc là 200.000.000 đồng.
Về nội dung ông Đ, bà H cho rằng đ trả cho ông P số tiền nợ gốc 80.000.000 đồng tiền bằng hình thức ông P lấy các tài sản bằng gỗ là 01 bộ lục bình, 01 bộ di văng, 01 bàn làm việc. Ông P thừa nhận có lấy các tài sản này để trừ nợ nhưng giá trị các tài sản này chỉ là 50.000.000 đồng. Trong quá trình giải quyết và tại phiên t a hai bên đương sự không tự thỏa thuận được giá trị tài sản để trừ nợ; ông P và ông Đ thống nhất giá trị các đồ gỗ ông P đang giữ là 50.000.0000 đồng, bà H không thống nhất với giá trị ông Đ và ông P thỏa thuận mà cho rằng giá trị các tài sản này là 65.000.000 đồng. Do các đương sự không thỏa thuận được các tài sản này để Tòa án ghi nhận mà các tài sản này không thuộc phạm vi khởi kiện của ông P; ông Đ, bà H không có yêu cầu phản tố đ i lại các tài sản này nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Trong trường hợp các đương sự có tranh chấp thì khởi kiện bằng một vụ án khác.
Xét yêu cầu tính l i hoản tiền vay theo quy định pháp luật của ông P:
Theo nội dung hợp đồng thì hai bên cho vay có thời hạn, có thỏa thuận l i suất nhưng hông ghi cụ thể mức l i suất vay là bao nhiêu. Ông P cho rằng l i suất thỏa thuận là 3%/tháng, ông Đ và bà H cho rằng mức l i suất cho vay là 20.000.000 đồng/tháng. Do hai bên hông thống nhất được mức l i suất, ông P yêu cầu tính l i suất theo quy định pháp luật, hoản vay của ông Đ và bà H là vay có thời hạn nên căn cứ hoản 2 Điều 468 của Bộ luật d n sự 2015 thì l i suất cho vay trong hạn là 10%/năm, l i suất cho vay quá hạn là 150% của l i suất trong hạn theo quy định tại hoản 2 Điều 466 của Bộ luật d n sự 2015.
Về số tiền l i ông Đ, bà H phải trả cho ông P theo quy định pháp luật:
L i suất trong hạn từ ngày 07/7/2023 đến ngày 07/8/2023 là: 200.000.000 đồng 10%/năm 30 ngày = 1.667.000 đồng.
L i suất quá hạn từ ngày 08/8/2023 đến ngày ét ử là: 200.000.000 đồng 10%/năm 150% 19 tháng 18 ngày = 49.000.000 đồng.
Về số tiền l i ông P đ nhận: Ông P cho rằng l i suất 3%/tháng chỉ nhận được 03 tháng tiền l i với số tiền là 20.000.000 đồng. Bà H và ông Đ cho rằng trả tiền l i tới tháng 8/2024 hông có hả năng trả l i mới ngưng và bị ông P lấy tài sản. Theo chứng cứ bà H và ông Đ cung cấp thì ngày 07/8/2023, ông Đ và bà H chuyển cho ông P số tiền 20.000.000 đồng với nội dung “tr tiền lãi”, ông P thừa nhận chỉ nhận 20.000.000 đồng tiền l i bằng hình thức chuyển hoản, hông thừa nhận có việc nhận tiền l i của ông Đ, bà H trả bằng tiền mặt như ông Đ, bà H trình bày. Ông P trình bày số tiền 20.000.000 đồng là l i của 03 tháng, hông phải là tiền l i 01 tháng như lời trình bày của ông Đ, bà H. Xét lời trình bày của ông P thấy rằng ông P cho rằng l i suất cho vay là 3%/tháng và số tiền 20.000.000 đồng đ nhận là tiền l i 03 tháng, với mức l i suất 3%/tháng thì tiền l i 03 tháng như ông P trình bày đối với số tiền nợ gốc phải là 18.000.000 đồng trong hi ông P và bà H chuyển 20.000.000 đồng chỉ sau ngày vay 01 tháng, nội dung ghi hông thể hiện l i 03 tháng, cũng hông có thể hiện trả nợ gốc, chỉ có ghi tiền l i. Lời trình bày của ông P về tiền l i có sự m u thuẫn. Vì vậy có căn cứ ác định ông P đ nhận tiền l i mỗi tháng 20.000.000 đồng và nhận trong 03 tháng, thành tiền là 60.000.000 đồng. Theo quy định tại Điều 466 và 468 của Bộ luật d n sự 2015 thì ông P được nhận số tiền l i là 50.667.000 đồng nhưng ông P đ nhận 60.000.000 đồng vượt quá mức pháp luật quy định là 9.333.000 đồng nên số tiền vượt quá mức sẽ trừ vào tiền nợ gốc. Như vậy, ông Đ và bà H phải trả tiền nợ gốc cho ông P là 190.667.000 đồng.
Đối với việc ông Đ, bà H đề nghị được trả dần số tiền nợ cho ông P mỗi tháng 2.000.000 đồng, tại phiên tòa ông P hông đồng nên hông có căn cứ chấp nhận.
Từ những ph n tích nêu trên, Hội đồng ét ử thấy có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu hởi iện của ông Bùi Linh P. Buộc ông Nguyễn Bình Đ và bà Hà Thị Kim H có nghĩa vụ trả cho ông Bùi Linh P số tiền nợ là 190.667.000 đồng.
Án phí: Do yêu cầu hởi iện của ông P được chấp nhận một phần nên ông P, ông Đ và bà H phải chịu án phí theo quy định, cụ thể:
Bà H và ông Đ phải chịu án phí trên số tiền phải trả cho ông P là 190.333.000 đồng.
Ông P phải chịu án phí trên số tiền phần hông được chấp nhận là 9.333.000 tiền nợ gốc và 50.667.000 đồng tiền l i theo quy định pháp luật.
Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nh n d n thị H a Thành về nội dung giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng ét ử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 463, 466, 468, 470 của Bộ luật D n sự 2015;
Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng d n sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí T a án, tuyên ử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu hởi iện của ông Bùi Linh P đối với ông Nguyễn Bình Đ và bà Hà Thị Kim H về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Buộc Nguyễn Bình Đ và bà Hà Thị Kim H có nghĩa vụ trả cho ông Bùi Linh P số tiền 190.333.000 (một trăm chín mươi triệu ba trăm ba mươi ba ngàn) đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án cho đến hi thi hành án ong tất cả các hoản tiền nợ, hàng tháng bên phải thi hành án phải chịu hoản tiền l i của số tiền c n phải thi hành án theo mức l i suất quy định tại hoản 2 Điều 468 Bộ luật D n sự 2015.
2. Án phí d n sự sơ thẩm:
- Ông Bùi Linh P phải chịu 3.000.000 (ba triệu) đồng, trừ vào tiền tạm ứng đ nộp là 5.000.000 (năm triệu) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí T a án số 0011573 ngày 08 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án d n sự thị H a Thành, tỉnh T y Ninh. Ông Bùi Linh P được trả lại số tiền là 2.000.000(hai triệu) đồng.
- Ông Nguyễn Bình Đ và bà Hà Thị Kim H phải chịu 9.517.000 (chín triệu năm trăm mười bảy ngàn) đồng.
3. Về quyền háng cáo: Đương sự có quyền háng cáo trong thời hạn 15 ngày ể từ ngày tuyên án hoặc ể từ ngày bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ đối với đương sự vắng mặt.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Ðiều 2 Luật Thi hành án d n sự thì người được thi hành án d n sự, người phải thi hành án d n sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án d n sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Ðiều 30 Luật Thi hành án d n sự./.
| Nơi nhận: - TAND. tỉnh T y Ninh; - VKSND thị H a Thành; - CCTHADS thị . H a Thành; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đinh Thị Thanh Hoa |