- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng Ngân hàng C - Lý S"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng C. Buộc ông Lý S và bà Lý Thị Sà Q có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng C số tiền còn nợ tính đến ngày 23/4/2025 tổng cộng số tiền 10.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 103 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2025/DS-ST Ngày: 23-4-2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nghiệp
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Văn Chính
Ông Nguyễn Văn Hoành
- Thư ký phiên tòa: Bà Thạch Sơn Hà, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Nguyệt Hân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 189/2024/TLST-DS, ngày 21 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2025/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng C.
Địa chỉ: Số A Phố L, H, H, Hà Nội.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Văn T – Phó Giám đốc Phòng giao dịch huyện T - tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp C, thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
Theo văn bản uỷ quyền ngày 31/5/2024.
- Bị đơn: 1. Ông Lý S, sinh năm 1951 (vắng mặt).
2. Bà Lý Thị Sà Q, sinh năm 1957 (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp S, thị trấn H, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 30/9/2024 của nguyên đơn Ngân hàng C (gọi tắt Ngân hàng) và quá trình tham gia tố tụng tại Toà án người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:
Căn cứ hồ sơ vay vốn của Ngân hàng C – PGD huyện T (gọi tắt ngân hàng), ông Lý S là người đại diện hộ gia đình đứng ra vay vốn và được Ngân hàng giải ngân cho vay vào ngày 09/3/2017 với số tiền vốn vay 10.000.000 đồng của chương trình hộ nghèo, lãi suất 0,55%/tháng, thời hạn vay 60 tháng, kỳ hạn trả nợ 06 tháng/lần, hạn trả cuối cùng ngày 09/3/2022, món vay đã được gia hạn đến ngày 16/8/2024 hiện tại món vay đã quá hạn. Theo giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay và khế ước nhận nợ ông Lý S cam kết tiền lãi sẽ được trả hàng tháng và 06 tháng trả tiền gốc theo phân kỳ. Nhưng đến nay ông Lý S không thực hiện trả theo thoả thuận. Nay Ngân hàng yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông Lý S và bà Lý Thị Sà Q trả cho Ngân hàng số tiền còn nợ tính đến ngày 23/4/2025 tổng cộng 10.009.535 đồng (trong đó gốc 10.000.000 đồng và lãi 9.535 đồng), tiền lãi sẽ được cộng thêm hàng tháng cho đến ngày trả tất nợ cho ngân hàng.
Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 06/3/2025 của Toà án đối với bị đơn bà Lý Thị Sà Q có lời trình bày:
Về số nợ Ngân hàng chính sách 10.000.000 đồng bà thống nhất, hàng tháng bà đều đóng lãi và có biên lai của ngân hàng, tuy nhiên nợ gốc quá hạn bà vẫn chưa trả cho ngân hàng. Về số nợ gốc 10.000.000 đồng gia đình bà đồng ý trả nhưng xin được trả dần do hiện nay gia đình còn nhiều khó khăn, vợ chồng bà đều đã lớn tuổi không có thu nhập hàng tháng, không có khả năng trả nợ trong một lần. Bà xin được miễn án phí do vợ chồng bà đều là người cao tuổi.
Bị đơn ông Lý S vắng mặt, không có lời trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa nêu quan điểm:
Từ khi thụ lý đến khi kết thúc phần tranh luận tại phiên tòa, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ đúng với các quy định của pháp luật.
Qua chứng cứ trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Lý S và bà Lý Thị Sà Q có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Ngân hàng C tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 23/4/2025 tổng cộng 10.009.535 đồng (trong đó gốc 10.000.000 đồng và lãi 9.535 đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự phát sinh từ hợp đồng dân sự giữa tổ chức tín dụng với cá nhân. Bị đơn có nơi cư trú tại ấp S, thị trấn H, huyện T, tỉnh Sóc Trăng, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng. Phiên tòa được mở lần thứ hai, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T và bị đơn bà Lý Thị Sà Q có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn ông Lý S vắng mặt không lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
Về nội dung: Căn cứ Sổ vay vốn mã KH: 6200099373, Giấy uỷ quyền ngày 06/3/2017, Sổ lưu tờ rời theo dõi cho vay – thu nợ - dư nợ ngày 09/3/2017, Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay ngày ngày 06/3/2017 của Ngân hàng C thể hiện nội dung: Vào ngày 09/3/2017 Ngân hàng đã giải ngân cho hộ ông Lý S và bà Lý Thị Sà Q vay số tiền vốn 10.000.000 đồng, mục đích vay chăn nuôi heo và xây chuồng, theo chương trình cho vay Hộ nghèo, lãi suất 0.55%/tháng, lãi suất nợ quá hạn bằng 130% lãi suất cho vay, thời hạn 60 tháng, kỳ trả nợ 06 tháng/lần, hạn trả cuối cùng ngày 09/3/2022, lãi tiền vay được trả định kỳ hàng tháng vào ngày 09. Quá trình thực hiện hợp đồng hộ ông Lý S và bà Lý Thị Sà Q đã vi phạm nghĩa vụ trả gốc theo kỳ, chỉ trả được cho ngân hàng số tiền lãi 5.491.068 đồng, không tiếp tục trả nợ theo thỏa thuận, còn nợ lại vốn gốc 10.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 23/4/2025 là 9.535 đồng. Bị đơn bà Lý Thị Sà Q cũng thừa nhận còn nợ ngân hàng tiền gốc 10.000.000 đồng và xin trả dần nhưng không được nguyên đơn đồng ý. Xét thấy, nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu hộ ông Lý S và bà Lý Thị Sà Q trả số tiền còn nợ tính đến ngày 23/4/2025 tổng cộng 10.009.535 đồng (trong đó gốc 10.000.000 đồng và lãi 9.535 đồng) và phải chịu lãi phát sinh mức lãi suất theo thoả thuận cho đến khi trả dứt nợ, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Việc bị đơn xin trả dần thuộc giai đoạn thi hành án dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí sơ thẩm: Bị đơn là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định pháp luật. Nguyên đơn Ngân hàng C không phải nộp tiền tạm ứng án phí, không phải chịu án phí theo quy định pháo luật.
Đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 103 Luật Các tổ chức tín dụng; các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm c khoản 1 Điều 11 và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng C. Buộc ông Lý S và bà Lý Thị Sà Q có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng C số tiền còn nợ tính đến ngày 23/4/2025 tổng cộng số tiền 10.009.535 đồng (trong đó gốc 10.000.000 đồng và lãi 9.535 đồng). Ông Lý S và bà Lý Thị Sà Q còn phải chịu tiền lãi phát sinh kể từ ngày 24/4/2025 theo mức lãi suất đã thỏa thuận ghi trong Sổ lưu tờ rời theo dõi cho vay – thu nợ - dư nợ ngày 09/3/2017, Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay ngày ngày 06/3/2017 của Ngân hàng C cho đến khi thanh toán xong nợ.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lý S và bà Lý Thị Sà Q đều là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí theo quy định pháp luật. Nguyên đơn Ngân hàng C không phải nộp tiền tạm ứng án phí, không phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Đương sự có quyền kháng cáo đối với Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân nơi đương sự cư trú để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND huyện Thạnh Trị; - Chi cục THADS huyện Thạnh Trị; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thành Nghiệp |