- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Ngọc D phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Ngọc D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC TỈNH BÀ RỊA –VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2024/HSST Ngày: 01-02-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Pho
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Ngọc Phi
Bà Trần Thị Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bảo Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Hồng Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 02 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 02/2024/TLST-HS ngày 08/01/2024; Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:
Bùi Ngọc D, sinh năm 1990; Tại Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi cư trú: Thôn Tân B, xã Bàu C, huyện Châu Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Văn M, sinh năm 1963; Con bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1963; Vợ Dương Thị Thu T, sinh năm 1993 (Đã ly hôn); Chưa có con; Tiền sự: Không có; Tiền án: Không có;
Nhân thân: Ngày 07/10/2004, Tòa Phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 10 năm tù về tội “Giết người”; 05 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội là 12 năm tù.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/10/2023 đến ngày 25/10/2023 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Châu Đức “Có mặt”.
- Bị hại:
Ông Trần Văn V, sinh năm 1977; Địa chỉ: Thôn 4, xã Bình T, huyện Châu Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu “Có đơn xin xét xử vắng mặt”.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Bà Dương Thị Thu T, sinh năm 1993; Địa chỉ: Khu phố Phú G, thị trấn Ngãi G, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu “Có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 21/10/2023, tại nhà thờ Vinh Trung thuộc thôn 3, xã Bình T, huyện Châu Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Trong khi Bùi Ngọc D đang “Trộm cắp tài sản” thì bị quần chúng nhân dân bắt quả tang rồi bàn giao cho Công an xã Bình T.
Tang vật thu giữ gồm: 01 thanh bẻ khóa xe bằng kim loại, hình trụ, đường kính 1cm, dài 17cm và 01 xe mô tô hiệu Honda, nhãn hiệu Wave A, màu trắng, biển kiểm soát 72F1 – 91599; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno7 Z 5G, màu đen có số IMEI1 869447051081373; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen có số IMEI 1 357723107890614, số IMEI2 35772310789062; 01 áo sơ mi dài tay, màu trắng, size L, nhãn hiệu ELNDO và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen - xanh (số máy: 5C6J217571; số khung C6J0GY217573), biển kiểm soát 62P1 - 132.33.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Đức, Bùi Ngọc D khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau:
Vào khoảng tháng 9 năm 2023, thông qua mạng xã hội Facbook, Bùi Ngọc D quen một đối tượng tên Khánh có Nick "Khanh Tran” (Không rõ lai lịch). Sau đó “Khanh Tran” nhắn tin cho D, chỉ cho D kiếm tiền bằng cách đi trộm cắp tài sản, D đồng ý, Khánh nói D mua đoản bẻ khóa rồi học cách lấy trộm xe trên YouTube. Khoảng 15 giờ ngày 21/10/2023, Khánh đi xe khách về thị trấn Ngãi G, huyện Châu Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và gọi điện thoại cho D ra đón. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, D đưa xe mô tô biển kiểm soát 72F1-432.44 cho Khánh điều khiển, đồng thời Khánh đổi biển kiểm soát 72F1-432.44 thành biển kiểm soát 62P1-132.33 mà Khánh đã chuẩn bị từ trước để tránh bị phát hiện. Khi D và Khánh đi đến Nhà thờ giáo xứ Vinh Trung thuộc tổ 1, thôn 3, xã Bình T, huyện Châu Đ, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu thì Khánh nói D đi bộ vào Nhà thờ giáo xứ Vinh Trung bẻ khóa lấy trộm xe mô tô, còn Khánh đứng ngoài cảnh giới, có gì thì Khánh rước D, D đồng ý và đi bộ vào trong Nhà thờ thì thấy có chiếc xe mô tô biển kiểm soát 72F1-915.99 đang dựng sát bờ tường, không có người trông coi nên Dư dùng “Thanh đoản” đưa vào để bẻ khóa. Khi D đang gạt chân chống và dắt lùi xe về sau rời khỏi vị trí ban đầu được khoảng 5m thì bị ông Trần Văn V là chủ xe phát hiện, tri hô nên D bỏ chạy ra ngoài rồi lên xe của Khánh để tẩu thoát thì bị người dân bắt giữ giao cho Công an xã Bình T. Riêng đối tượng Khánh đã tẩu thoát được.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 163/BB- HĐĐGTS, ngày 24/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện Châu Đức kết luận: Giá trị của chiếc xe mô tô biển số 72F1–915.99; Nhãn hiệu: Honda; Số loại: Wave Alpha; Màu: Trắng-bạc (Số máy JA39E2835110, số khung RLHJA3925NY416688) tại thời điểm ngày 21/10/2023 là 18.624.229 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Trần Văn V đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị can Bùi Ngọc D bồi thường về phần dân sự.
Bản Cáo trạng số 16/CT-VKS-CĐ ngày 05/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức đã truy tố bị cáo Bùi Ngọc D về tội “Trộm cắp tài sản” theo qui định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố Nhà nước giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Ngọc D mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Trần Văn V đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì về phần dân sự.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tuyên tịch thu tiêu huỷ 01 chiếc biển kiểm soát 62P1-132.33; 01 thanh bẻ khóa xe bằng kim loại, hình trụ, đường kín 1cm, dài 17cm và 01 áo sơ mi dài tay, màu trắng, size L, nhãn hiệu ELNDO. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno7 Z 5G, màu đen có số IMEI1 869447051081373; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen có số IMEI 1 357723107890614, số IMEI2 35772310789062.
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố, bị cáo thành khẩn khai báo và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra trong tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên Tòa, bị cáo, bị hại, người liên quan, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Ngọc D thừa nhận: Vào khoảng 18 giờ ngày 21/10/2023, tại Nhà thờ giáo xứ Vinh Trung thuộc Tổ 1, Thôn 3, xã Bình T, huyện Châu Đ, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu Bùi Ngọc D đã lén lúc trộm cắp 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 72F1-915.99 có giá trị 18.624.229 đồng của ông Trần Văn V.
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan, phù hợp với kết luận điều tra của Công an huyện Châu Đức, với bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đối chiếu với Điều luật do Bộ luật Hình sự qui định, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của Bùi Ngọc D đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được qui định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức và chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi của mình. Chỉ vì lười lao động nên bị cáo đã phạm tội. Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo được thực hiện một cách cố ý trực tiếp với động cơ, mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác đem bán lấy tiền tiêu xài, là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại mà nó còn gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân và ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội. Đây là bài học giáo dục riêng đối với bị cáo đồng thời mới đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, giáo dục, phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo một số tình tiết: Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 07/10/2004, Tòa Phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 10 năm tù về tội “Giết người”; 05 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội là 12 năm tù.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên tòa bị cáo đã thật thà khai báo, thành khẩn nhận tội, được qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
Lời luận tội và mức án đề xuất của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu là có căn cứ pháp luật và phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận,
Về hình phạt bổ sung qui định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối tượng tên “Khánh”, quá trình điều tra Bùi Ngọc D khai quen biết “Khánh” trên mạng xã hội, không rõ nhân thân lai lịch và số điện thoại 0909407192 “Khánh” dùng để liên lạc với D. Qua xác minh tại Công ty dịch vụ Mobifone khu vực 8 được biết số điện thoại trên ông Trần Văn N, sinh năm 1980; trú tại ấp Xóm Q, xã An L, huyện Phú G, tỉnh Bình Dương, đăng ký chủ thuê bao. Qua làm việc với ông N được biết ông không đăng ký sử dụng số điện thoại trên, không quen biết ai tên “Khánh”, có nick facebook là “Khanh Tran”. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Đức tiếp tục xác minh và xử lý sau.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Trần Văn V đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì về phần dân sự.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Dương Thị Thu T không có có yêu cầu gì nên hội đồng xét xử không đưa ra xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu trắng - bạc, biển kiểm soát 72F1 - 915.99 (số máy JA39E2835110; số khung RLHJA3925NY416688) là tài sản của ông Trần Văn V. Ngày 24/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Đức đã trả lại chiếc xe trên cho ông V.
01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen - xanh (số máy 5C6J217571; số khung C6J0GY217573), biển kiểm soát 62P1 - 132.33. Tại bản kết luận giám định số 07/KL-KTHS-SKSM ngày 18/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu kết luận: Số khung, số máy nguyên thủy; Biển số 62P1-132.33 là biển số thật. Chiếc xe mô tô trên là tài sản của bà Dương Thị Thu T là vợ của D. Vào ngày 21/10/2023, D tự ý lấy xe đi thực hiện hành vi phạm tội bà T không biết, không tham gia. Ngày 19/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện châu Đức đã trả lại chiếc xe trên cho bà T là phù hợp với quy định của pháp luật.
01 chiếc biển kiểm soát 62P1-132.33, qua xác minh được biết chủ đăng ký là bà Nguyễn Thị K, trú tại ấp Nhơn H, xã Đức Hòa T, huyện Đức H, tỉnh Long An. Qua làm việc với bà K được biết trước đây bà có đăng ký biển kiểm soát trên và sử dụng chiếc xe mô tô có biển kiểm soát 62P1-132.33 nhưng sau đó bà K đã bán chiếc xe trên cho 01 cửa hàng thu mua xe cũ tại thành phố Hồ Chí Minh (không nhớ địa chỉ). Hiện bà K không yêu cầu gì đối với chiếc biển kiểm soát trên.
01 thanh bẻ khóa xe bằng kim loại, hình trụ, đường kính 1cm, dài 17cm; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno7 Z 5G, màu đen có số IMEI1 869447051081373; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen có số IMEI 1 357723107890614, số IMEI2 35772310789062 và 01 áo sơ mi dài tay, màu trắng, size L, nhãn hiệu ELNDO.
Hội đồng xét xử xét thấy tài sản, nêu trên là những công cụ, phương tiện sử dụng vào mục đích phạm tội cần tịch thu sung công quỹ Nhà Nước. Đối với 01 chiếc biển kiểm soát 62P1-132.33; 01 thanh bẻ khóa xe bằng kim loại, hình trụ, đường kính 1cm, dài 17cm; 01 áo sơ mi dài tay, màu trắng, size L, nhãn hiệu ELNDO, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Ngọc D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Bùi Ngọc D 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/10/2023.
Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 chiếc biển kiểm soát 62P1-132.33; 01 thanh bẻ khóa xe bằng kim loại, hình trụ, đường kính 1cm, dài 17cm; 01 áo sơ mi dài tay, màu trắng, size L, nhãn hiệu ELNDO.
Tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno7 Z 5G, màu đen có số IMEI1 869447051081373; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen có số IMEI 1 357723107890614, số IMEI 2 35772310789062;
(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Châu Đức với Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Đức ngày 31/01/2024).
Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Bùi Ngọc D nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (01/02/2024) bị cáo, bị hại, người liên quan, có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Thời hạn kháng cáo mười lăm ngày áp dụng đối với những người vắng mặt tại phiên tòa được tính từ khi nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; - VKSND tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; - Sở tư pháp tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; - Phòng PC06, PV10 Công an tỉnh BRVT; - VKS huyện Châu Đức; - Chi cục Thi hành án dân sự h.C.Đức; - Công an huyện Châu Đức; - Bị cáo, bị hại, người liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Hữu Pho |