- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ca Dá T - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo CaDá T phạm tội “Giết người”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 357 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2024/HS-ST Ngày: 26 - 6 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Bách.
Thẩm phán:Ông Trần Hữu Xuân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Thành Quang;
Bà Lê Thị Chinh;
Bà Quảng Thị Như Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Diệp Tú Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Đinh Xuân Hiệu – Kiểm sát viên.
Ngày 26 - 6 - 2024, tại Phòng xét xử số 02, Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
CADÁ T, sinh năm: 2001, tại tỉnh Ninh Thuận. Giới tính: Nam;
Nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện B, tỉnh Ninh Thuận. Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; Dân tộc: Raglai; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: (Không rõ) và bà CaDá Thị T; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, Tiền sự: Không; Tạm giữ: 12/01/2024; Tạm giam: 15/01/2024.
Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N.
Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo CaDá Tỉnh: Luật sư Bá Trung Á – Công ty L1, Đoàn luật sư tỉnh Ninh Thuận.
Địa chỉ: Thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.
Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1980 (đã chết)
- Đại diện hợp pháp của bị hại:
+ Bà Nguyễn Thị M, sinh năm: 1987; cháu Nguyễn Văn P, sinh ngày 16/7/2013; cháu Nguyễn Thành Đ, sinh ngày: 08/9/2017 và cháu Nguyễn Hải N, sinh ngày: 18/9/2020; Là vợ và các con của bị hại.
+ Ông Nguyễn Văn M1, sinh năm: 1955 và Bà Nguyễn Thị M2, sinh năm: 1957; Là cha mẹ ruột của bị hại.
Cùng địa chỉ: Thôn T, xã T, thị xã K, tỉnh Hải Dương.
Do bà Nguyễn Thị M là đại diện.
Có mặt tại phiên tòa.
(Bà Nguyễn Thị M là đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn M1, bà Nguyễn Thị M2 (Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 06/3/2024) và là đại diện theo pháp luật của cháu Nguyễn Văn P, Nguyễn Thành Đ, Nguyễn Hải N).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà CaDá Thị T, sinh năm: 1975;
Nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện B, tỉnh Ninh Thuận.
Có mặt tại phiên tòa.
2. Công ty cổ phần T7.
Địa chỉ: Số C T, phường T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Khương Văn C – Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền (Theo Giấy ủy quyền số 0403/2024/UQ-DCG ngày 04/3/2024):
+ Ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1993
Địa chỉ thường trú: Khu phố P, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có mặt tại phiên tòa.
+ Ông Lương Minh N1, sinh năm: 1988
Địa chỉ thường trú: Thôn T, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
1. Ông Báo Đại L, sinh năm: 1997
Địa chỉ: Thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.
Vắng mặt tại phiên tòa.
2. Ông Hảo Xuân B, sinh năm: 1989
Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.
Vắng mặt tại phiên tòa.
3. Ông Thái Bá Q, sinh năm: 1992
Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.
Vắng mặt tại phiên tòa.
4. Ông Chamaléa K, sinh năm: 2001
Địa chỉ: Thôn R, xã P, huyện B, tỉnh Ninh Thuận.
Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt.
5. Ông Nguyễn Đắc T2, sinh năm: 1989
Địa chỉ thường trú: Thôn N, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.
Địa chỉ liên hệ: Thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.
Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
CaDá T là công nhân lái xe máy đào thi công gói thầu XL08 đường hầm Núi Vung trên tuyến cao tốc C - V. Quá trình làm việc, CaDá T cho rằng anh Nguyễn Văn T1 là Chỉ huy trưởng gói thầu XL08 thường xuyên bắt ép Tỉnh làm việc nhiều và bị anh T1 la mắng, có lời nói xúc phạm cá nhân và gia đình.
Vào khoảng 10 giờ 15 phút ngày 12/01/2024, sau khi làm hết khối lượng công việc, T điều khiển máy đào ra khỏi đường hầm để về nghỉ ngơi thì bị anh T1 la mắng. Sau đó, anh T1 điều khiển xe mô tô biển số: 59T2-588.67 về miệng đường hầm bên phải và thông báo sự việc lên nhóm Điều hành.
Khi bị la mắng, T không có phản ứng gì mà vẫn điều khiển xe máy đào loại DOOSAN 130 biển số: 78LA-0572 về khu vực rửa xe. Sau đó, anh Nguyễn Đắc T2 đội trưởng đội xe gọi điện thoại cho T nói quay lại đường hầm làm việc, anh T1 đã nhắn tin thông báo lên nhóm.
Đến khoảng 10 giờ 40 phút cùng ngày, T điều khiển xe máy đào quay lại đường hầm làm việc, khi đến trước cửa hầm bên phải phía Bắc thì gặp anh T1 đang ngồi trên xe mô tô và bấm điện thoại. Lúc này, T mở cửa xe nói với anh T1“Để cháu vô làm lại đi”, anh T1 chửi T “Đ.m mày, mày khỏi làm luôn đi, mày nghỉ mẹ mày đi”.
Thấy mình bị xúc phạm, T điều khiển cần gàu máy đào xoay từ trái qua phải đánh mạnh một cái trúng vào yên mô tô làm cho anh T1 và xe mô tô ngã xuống nền đường, Anh T1 ngã nằm đè lên xe mô tô, T điều khiển phần lưng gàu nhấn đè mạnh một cái từ trên xuống trúng vào phần lưng anh T1. Lúc này, anh Thái Bá Q nhìn thấy sự việc la lên nên T điều khiển máy đào chạy về bãi đất trống trước cửa hầm phía Bắc và đậu xe tại đây. Sau đó, T lấy xe mô tô đi khỏi hiện trường, còn anh T1 được mọi người đưa đi Bệnh viện đa khoa tỉnh N cấp cứu nhưng do thương tích nặng nên đã tử vong.
Sau khi gây án, T đã gọi điện thoại cho bạn là Chamaléa K, là cán bộ Công an huyện B, tỉnh Ninh Thuận kể lại toàn bộ sự việc và được anh K động viên ra đầu thú. Trong lúc chờ ra đầu thú thì T bị bắt giữ.
* Khám nghiệm hiện trường:
Hiện trường nơi xảy ra sự việc tại cửa hầm núi V phía Bắc tuyến Cao tốc C-V thuộc thôn T, xã P, huyện T. Đường hầm đang trong giai đoạn hoàn thiện, rộng 13m, nền đường bê tông. Quá trình khám nghiệm ghi nhận như sau:
- Tại vị trí cách đầu phía Đông Bắc của cửa hầm 6,7m về phía Tây. Cách vách phía Tây Bắc cửa hầm 2,3m là vị trí số 01. Tại đây, phát hiện 01 chiếc xe mô tô loại Wave Alpha màu đen, biển số 59T2-588.67 nằm ngã nghiêng bên phải. Đầu xe hướng Tây, đuôi xe hướng Đông Nam. Trên xe có 01 chiếc mũ bảo hộ màu trắng đặt úp trên hông xe. Khoảng cách từ trục trước xe vào vách hầm phía Tây 2,3m... Dưới nền đường, vị trí xe nằm phát hiện có vết chà hình vòng cung, kích thước (70x2,0)cm, đầu vết chà vào vách hầm 3,5m, đuôi vết chà vào vách hầm 3,0m...
- Cách vị trí số 01 về hướng Đông 75m là vị trí số 02. Đây là vị trí xe máy đào biển số 78LA-0572, loại bánh lốp, gầu có 05 răng. Đầu xe máy đào hướng Tây, đối diện cửa hầm núi Vung bên trái. Khoảng cách từ vị trí 02 đo vuông góc vào lề đường Cao tốc là 24,4m. Kiểm tra tại vị trí gàu múc của máy đào không phát hiện gì.
* Khám nghiệm tử thi
Khám ngoài: ....
- Vùng đầu, cổ, hai tai, tay trái: Không phát hiện tổn thương...
- Vùng ngực: Hai bên có nhiều vết trầy da bầm tụ máu không liên tục, kích thước (25x16)cm. Tràn khí dưới da hai bên ngực.
- Tay phải: Mặt trước cánh tay có nhiều vết trầy da bầm tụ máu không liên tục, kích thước (23x14)cm. Khuỷu tay có vết trầy da bầm tụ máu, kích thước (1,3x0,8)cm. 1/3 giữa xuống 1/3 dưới cẳng tay có vết trầy da, bầm tụ máu kích thước (7x3,5)cm. Lòng bàn tay có vết trầy da bầm tụ máu, kích thước (2,5x1)cm.
- Chân phải: Khớp gối mặt trước có vết trầy da bầm tụ máu không liên tục, kích thước (9x4)cm. 1/3 dưới mặt ngoài cẳng chân phải có vết trầy da bầm tụ máu, kích thước (2x1)cm. Chân trái: Khớp gối có vết trầy da, bầm tụ máu không liên tục, kích thước (5x4)cm.
- Vùng lưng: Có vết trầy da, bầm tụ máu không liên tục, kích thước (33x28)cm. Vùng thắt lưng phải có vết trầy da, bầm tụ máu kích thước (1,5x0,7)cm...
* Khám trong:
- Vùng ngực: Tụ máu tổ chức dưới da vùng ngực mặt trước bên phải xương ức, gãy xương sườn VIII, IX, X bên phải nối với sụn sườn. Tụ máu dưới da ngực trái, gãy rời cung trước xương sườn VI, VII, VIII bên trái, hai đầu xương sườn lệch nhau 0,7cm, lồng ngực bên trái khô, phổi trái có nhiều chấm xuất huyết, tràn khí màng phổi trái, diện cắt phổi có nhiều dịch bọt hồng. Lồng ngực phải có nhiều máu loãng lẫn máu đông thể tích khoảng trên 01 lít, phổi phải xẹp, thủng phổi phải nhiều vết ở thùy giữa và thùy dưới mặt trong kích thước (1,5x0,5)cm (vết 01), (1,3x0,5)cm (vết 02), (5,5x1,7)cm (vết 03), gãy rời hai đầu xương sườn cung bên xương sườn VII, VIII, IX, gãy rời hai đầu xương cung sau xươn sườn VII, VIII, IX đâm vào trong tương ứng với vết thương thủng phổi, phổi có nhiều chấm xuất huyết, diện cắt phổi khô xốp. Bao màng tim có nhiều máu loãng lẫn máu đông, tim mềm nhẽo, vỡ rách cung động mạch chủ kích thước (3,5x1,5)cm, miệng vết rách nham nhở, khoang màng tim khô.
- Vùng bụng: Có nhiều máu loãng, vỡ mặt sau thùy phải ban bờ nham nhở kích thước (12x8)cm. Các tạng khác nằm ở vị trí giải phẫu không phát hiện tổn thương.
Tại Bản kết luận giám định tử thi số:16/KLGĐTT-TTGĐYK-PY, ngày 19/01/2024 của Trung tâm Giám Định Y khoa - Pháp y tỉnh N, kết luận: - Nạn nhân chết do shock mất máu cấp, suy hô hấp cấp, trụy tim mạch cấp do (vỡ cung động mạch chủ, thủng phổi phải, vỡ gan) kèm theo đa chấn thương nặng vùng ngực.
- Tất cả các chấn thương do vật tày gây nên.
Cơ quan điều tra đã tạm giữ và trao trả cho chủ sở hữu hợp pháp một số tài sản gồm:
Công ty cổ phần T7: 01 (một) xe máy đào bánh lốp biển số 78LA -0572; 01 xe mô tô biển số 59T2-58867;
Bị cáo Ca Dá T (gia đình nhận thay): 01 điện thoại di động hiệu S A50 màu xanh; 01 xe mô tô biển số 85H1- 081.20.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn T1 yêu cầu bồi thường thiệt hại gồm: chi phí mai táng: 110 triệu đồng; tổn thất tinh thần: 50 triệu đồng, trợ cấp hàng tháng cho 03 con gồm: Nguyễn Văn P, sinh ngày 16/07/2013; Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 08/09/2017; Nguyễn Hải N, sinh ngày 18/09/2020 mỗi cháu mỗi tháng là 1.000.000đồng cho đến khi đủ 18 tuổi; trợ cấp cho cha, mẹ bị hại là ông Nguyễn Văn M3, sinh ngày 24/04/1955; bà Nguyễn Thị M2, sinh ngày 28/06/1957, mỗi người mỗi tháng là 500.000đồng đến lúc chết;
Bị cáo và gia đình bị cáo CaDá T đồng ý bồi thường thiệt hại và đã bồi thường được 20.000.000đồng.
* Tại Cáo trạng số 13/CT-VKS-P2 ngày 02 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận truy tố: bị cáo CaDá T về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
- Tại phiên tòa, bị cáo, người làm chứng khai nhận toàn bộ hành vi của bị cáo giống nội dung cáo trạng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận phát biểu quan điểm luận tội và tranh luận:
Xuất phát từ quá trình làm việc có xích mích, chỉ vì có lời nói xúc phạm, bị cáo có hành vi cố ý gây ra cái chết bị hại, bị hại cũng có một phần lỗi. Việc truy tố đối với bị cáo về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; “Người phạm tội đã tự nguyện bồi thường thiệt hại”; ông bà nội của bị cáo có công cách mạng được Nhà nước tặng thưởng nhiều Huân chương kháng chiến, bị hại có một phần lỗi theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố: bị cáo CaDá Tỉnh phạm tội “Giết người”
Áp dụng: điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Bộ luật Hình sự; Đề nghị xử phạt bị cáo từ 16 – 17 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự, áp dụng Điều 590, 591 của BLDS đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc bị can CaDá T tiếp tục bồi thường cho gia đình bị hại Nguyễn Văn T1 gồm: chi phí mai táng; tổn thất tinh thần; trợ cấp hàng tháng cho 03 con là: Nguyễn Văn P; Nguyễn Thành Đ; Nguyễn Hải N; cho cha, mẹ bị hại là ông Nguyễn Văn M3 và bà Nguyễn Thị M2 theo quy định pháp luật.
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Bá Trung Á trình bày ý kiến:
Việc truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS là đúng người, đúng tội.
Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tác động gia đình bồi thường thiệt hại, ông bà ngoại có công với cách mạng, đầu thú, lỗi của bị hại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, lao động chính.
Đề nghị xử phạt bị cáo mức án dưới mức đề nghị của Viện kiểm sát.
- Đại diện hợp pháp của bị hại trình bày:
Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý nghiêm minh theo quy định pháp luật.
- Bị cáo nói lời sau cùng: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng:
Tại phiên tòa, vắng mặt người làm chứng Báo Đại L, Hảo Xuân B, Thái Bá Q, Chamaléa K dù đã được triệu tập hợp lệ.
Xét thấy: sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Về hành vi phạm tội:
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo CaDá T đã khai nhận hành vi phạm tội giống nội dung cáo trạng. Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo với lời khai người làm chứng đã được thẩm tra tại phiên tòa và các các tài liệu, chứng cứ thu thập tại hồ sơ, nhận thấy là phù hợp, có đủ căn cứ để xác định:
Trong quá trình làm việc chung với nhau tại công trình thi công đường hầm Núi Vung trên tuyến cao tốc C - V, giữa bị cáo CaDá T và bị hại Nguyễn Văn T1 xảy ra xích mích. Vào khoảng 10 giờ 40 phút ngày 12/01/2024, khi anh Nguyễn Văn T1 đang ngồi trên xe mô tô trước cửa hầm bên phải phía Bắc, CaDá T đã điều khiển gầu máy đào đánh một cái làm anh T1 té ngã xuống đường, sau đó dùng gầu máy đào đánh tiếp cái thứ hai theo hướng từ trên xuống vào người anh T1 gây thương tích nặng dẫn đến tử vong.
Tại Bản kết luận giám định tử thi số: 16/KLGĐTT-TTGĐYK-PY, ngày 19/01/2024 của Trung tâm Giám Định Y khoa - Pháp y tỉnh N, kết luận: anh Nguyễn Văn T1 chết do shock mất máu cấp, suy hô hấp cấp, trụy tim mạch cấp do vỡ cung động mạch chủ, thủng phổi phải, vỡ gan kèm theo đa chấn thương nặng vùng ngực.
Chỉ vì mâu thuẩn nhỏ nhặt trong quá trình làm việc chung với nhau, bị cáo CaDá T đã cố ý dùng gầu máy đào, đánh liên tiếp 2 cái vào người anh Nguyễn Văn T1 nhằm tước đoạt tính mạng của anh T1.
Theo Án lệ số 17/2018/AL về tình tiết “Có tính chất côn đồ” trong tội “Giết người” được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2018 và được công bố theo Quyết định số 269/QĐ-CA ngày 06 tháng 11 năm 2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Trường hợp này bị cáo phạm tội “Có tính chất côn đồ”;
Bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Giết người” với tình tiết định khung hình phạt là phạm tội “Có tính chất côn đồ”;
Việc Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận truy tố bị cáo CaDá T về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo phải đánh giá là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện ý thức xem thường pháp luật, trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, thể hiện tính chất côn đồ, hung hãn nên Hội đồng xét xử sơ thẩm cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người tốt có ích cho xã hội, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng: Do đã áp dụng tình tiết phạm tội “Có tính chất côn đồ” là tình tiết định khung của tội “Giết người” nên không áp dụng là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo nữa.
Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo và gia đình bồi thường một phần thiệt hại dân sự cho bị hại Nguyễn Văn T1; Bản thân bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật có phần hạn chế; có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự; Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại Nguyễn Văn T1 chết là hậu quả do hành vi trái pháp luật của bị cáo CaDá T gây ra nên bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho gia đình anh T1.
Quá trình điều tra, tại biên bản ghi nhận thỏa thuận bồi thường dân sự lập ngày 07/3/2024 (BL 259), giữa đại diện hợp pháp của bị hại và gia đình bị cáo, bị cáo T đã thỏa thuận việc bồi thường thiệt hại dân sự. Tại phiên tòa, các bên không có thay đổi nào khác. Đây là sự tự nguyện thỏa thuận, không trái với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận này, buộc bị cá Ca Dá T phải bồi thường thiệt hại cho đại diện hợp pháp của bị hại các khoản chi phí hợp lý sau:
- Chi phí mai táng: 110.000.000đ;
- Tổn thất tinh thần: 50.000.000đ.
Tổng cộng là: 160.000.000đ.
Bị cáo CaDá T đã bồi thường cho gia đình bị hại 20.000.000đ. Buộc CaDá T6 tiếp tục bồi thường cho gia đình bị hại Nguyễn Văn T1 140.000.000đ.
- Tiền cấp dưỡng hàng tháng cho 03 con của bị hại gồm: Nguyễn Văn P, sinh ngày 16/07/2013; Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 08/09/2017; Nguyễn Hải N, sinh ngày 18/09/2020 mỗi cháu mỗi tháng là 1.000.000đồng cho đến khi đủ 18 tuổi;
- Tiền cấp dưỡng hàng tháng cho cha, mẹ bị hại là ông Nguyễn Văn M1, sinh ngày 24/04/1955; bà Nguyễn Thị M2, sinh ngày 28/06/1957, mỗi người mỗi tháng là 500.000đồng đến lúc chết
Về xử lý vật chứng: quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ, sau đó trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp các tài sản gồm:
- Công ty cổ phần T7: 01 (một) xe máy đào bánh lốp biển số 78LA -0572 và 01 xe mô tô biển số 59T2-58867;
- Bị cáo Ca Dá T (CaDá Thị T2 nhận thay): 01 điện thoại di động hiệu S A50 màu xanh; 01 xe mô tô loại Exciter, không gắn biển số kiểm soát.
Việc Cơ quan điều tra, trả lại các tài sản này cho các chủ sở hữu là phù hợp nên không xem xét xử lý nữa. [9] Tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Ý kiến của Người bào chữa cho bị cáo về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phù hợp nên được chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo CaDá T là đối tượng đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn nên được miễn nộp án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 31-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo CaDá T phạm tội “Giết người”.
- Áp dụng: điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo CaDá T 17 (Mười bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày: 12/01/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46, Điều 48 BLHS; các Điều 584, 585, 586, 591, Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
- Bị cáo CaDá T có nghĩa vụ tiếp tục bồi thường thiệt hại về dân sự cho bị hại Nguyễn Văn T1 (đại diện hợp pháp là bà Nguyễn Thị M) 140.000.000đ (Một trăm bốn mươi triệu đồng);
- Bị cáo CaDá Tỉnh có nghĩa vụ cấp dưỡng cho 03 con chưa thành niên của bị hại gồm: Nguyễn Văn P, sinh ngày 16/07/2013; Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 08/09/2017; Nguyễn Hải N, sinh ngày 18/09/2020 mỗi cháu mỗi tháng là 1.000.000đồng, kể từ tháng 6 năm 2024 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi;
- Bị cáo CaDá Tỉnh có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha, mẹ bị hại là ông Nguyễn Văn M1, sinh ngày 24/04/1955; bà Nguyễn Thị M2, sinh ngày 28/06/1957, mỗi người mỗi tháng là 500.000đồng, kể từ tháng 6 năm 2024 đến lúc chết;
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
- Về án phí: Bị cáo CaDá Tỉnh được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo, Đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 26 - 6 - 2024).
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND tỉnh Ninh Thuận; - Công an tỉnh Ninh Thuận; - Cục THADS tỉnh Ninh Thuận; - PV 27; VP CSĐT; - Sở Tư pháp; - Người tham gia tố tụng; - Phòng KTNV-THA; HCTP; - Lưu: án văn, hồ sơ./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Lâm Bách |