vanban.org

Bản án 18/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 27/02/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về điều luật áp dụng: Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Kh 02 (hai) năm 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.Thời hạn tù tình từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 18/10/2023. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46 BLHS, Điều 589 BLDS. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trôm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng: Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TAND HUYỆN HIỆP HÒA
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2024/HS-ST
Ngày 27 tháng 02 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA

Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Thanh Thuần

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Đô

Ông Lê Thanh Miện

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Chi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa tham gia phiên tòa: Ông Vi Đăng KHoa- Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 02 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn Kh - sinh năm 1995; Giới tính: Nam

Tên gọi khác: không;

Nơi thường trú: thôn Lạc Y, xã Hoàng V, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

Nơi ở hiện tại: Tổ dân phố My Đ , thị trấn N, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang (Tổ dân phố My Đ, Phường N, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang)

Quốc tịch: Việt Nam;

Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Không;

Nghề nghiệp: Tự do;

Văn hóa lớp: 12/12;

Con ông: Nguyễn Văn Thủy, sinh năm 1960;

Con bà: Hoàng Thị Núi, sinh năm 1967;

Vợ: Lê Thị Khoa, sinh năm 1997

Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2020

Bị cáo là con duy nhất.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Bản án số 01/2018/HSST ngày 05/01/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Ngãi xử Nguyễn Văn Kh 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Án phí 200.000 đồng. Chấp hành xong án phí ngày 25/8/2020.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/10/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.(Có mặt tại phiên tòa)

1./ Bị hại:

- Bà Nguyễn Thị Ng- Sinh năm 1988; SĐT 0342739354 ( Vắng mặt)

Nơi cư trú: TDP Sa L, thị trấn Th, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

- Chị Bùi Thị H- Sinh năm 1999; SĐT 0968174990 (Vắng mặt)

Nơi cư trú: thôn Đô T, xã Bắc S, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.

- Chị Nguyễn Thị Thùy D- Sinh năm 1999; SĐT: 0971832646 (Có mặt)

Nơi cư trú: thôn Đống M, xã Hương M, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang ( Nay là thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang

- Anh Lê Văn Q- Sinh năm 1993; SĐT: 0974008868 (Vắng mặt)

Nơi cư trú: TDP Số 3, thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

2./ Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Hữu C- Sinh năm 1998: SĐT 0392030030 (Vắng mặt)

Nơi cư trú: xóm Việt N, xã Lương Ph, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên

- Anh Trần Văn Nguyên- Sinh năm 1987 ( vắng mặt)

Nơi cư trú: TDP Sa L, thị trấn Th, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

- Chị Trần Thị Bích H- Sinh năm 1999 (Vắng mặt)

Cư trú: TDP Hàm Rồng, thị trấn Hùng S, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn Kh, sinh năm 1995 ở thôn Lạc Yên 3, xã Hoàng V, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định. Khoảng cuối tháng 9 năm 2023, Kh thuê trọ ở tại Tổ dân phố My Điền 1, thị trấn Nếnh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang ( nay là thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang) để xin làm công nhân, nhưng chưa xin được việc làm. Để có tiền tiêu xài, Kh nảy sinh ý định đi trộm cắp xe máy để bán lấy tiền. Từ ngày 30/9/2023 đến ngày 18/10/2023, Kh đã thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Hiệp Hòa và huyện Việt Yên, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng 12 giờ ngày 30/9/2023, Kh một mình điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát (BKS): 22H8–8679 mà Kh mua từ một người không quen biết qua mạng xã hội Facebook, đi từ phòng trọ về thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang để tìm kiếm, trộm cắp xe máy. Khi đi trên tỉnh lộ 296 thuộc địa phận Tổ dân phố Trung Đồng, thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, Kh phát hiện có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu xám, BKS: 98D1-210.56 của chị Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1988 trú tại Tổ dân phố Sa L, thị trấn Th, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đang để trước cửa quán “Spa dưỡng sinh đông y Ng Nguyên”, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khoá điện của xe. Kh lái xe đi qua cửa quán quan sát thấy không có ai, Kh vòng xe quay lại gần chiếc xe Lead, bỏ lại chiếc xe Dream của mình đi đến, rồi chóng ngồi lên chiếc xe Lead, vặn mở khóa nổ máy phóng xe tẩu thoát. Kh điều khiển chiếc xe trộm cắp được về thị trấn Nếnh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đổi cho một người đàn ông (không rõ tên tuổi, địa chỉ) lấy một chiếc điện thoại di động Iphone 11 Pro Max (chiếc điện thoại này Kh đã làm rơi mất).

Ngày 09/10/2023, chị Nguyễn Thị Ng có đơn trình báo Công an thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, đồng thời giao nộp 01 xe mô tô mang BKS: 22H8-8679 (bút lục 107-109).

Vụ thứ hai: Sau khi thực hiện trót lọt vụ trộm cắp thứ nhất, Kh tiếp tục mua 01 xe mô tô mang BKS: 98N7 -7445 từ một người không quen biết qua mạng xã hội Facebook để đi trộm cắp tài sản. Vào khoảng hơn 12 giờ ngày 06/10/2023, Kh một mình điều khiển chiếc xe trên từ phòng trọ về thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang để tìm kiếm, trộm cắp xe mô tô. Khi đi trên đường Trường Chinh thuộc địa phận Tổ dân phố số 3, thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, Kh phát hiện 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave anpha, màu vàng cam, BKS: 20F1–387.12 của chị Bùi Thị H, sinh năm 1999 trú tại thôn Đô Tân, xã Bắc Sơn, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội đang để trước cửa quán “Chinh Spa”, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khoá điện của xe. Kh quan sát thấy không có ai trông coi, liền vòng xe quay lại đỗ xe gần chiếc xe Wave, rồi ngồi lên xe Wave, vặn mở khóa nổ máy đi bỏ lại chiếc xe đi đến, rồi đi xe về khu vực Thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh bán cho một người đàn ông (không rõ tên tuổi, địa chỉ) được số tiền 4.000.000 đồng. Số tiền này Kh đã chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 10/10/2023, chị Bùi Thị H có đơn trình báo Công an thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Quá trình xác định hiện trường phát hiện, thu giữ 01 xe mô tô mang BKS: 98N7-7445, đã qua sử dụng (bút lục 114-116).

Vụ thứ ba: Sau khi chi tiêu hết số tiền bán xe đã trộm cắp lần thứ hai, Kh tiếp tục mua 01 xe mô tô mang BKS: 21T3 - 1132 từ một người không quen biết qua mạng xã hội Facebook để đi trộm cắp tài sản. Khoảng hơn 09 giờ ngày 14/10/2023, Kh một mình điều khiển chiếc xe mô tô trên đi từ phòng trọ đến thị trấn Bích Động, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang để tìm kiếm, trộm cắp xe mô tô. Khi đi trên đường Quốc lộ 37 đoạn thuộc địa phận Tổ dân phố số 2, thị trấn Bích Động, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, Kh quan sát thấy tại vỉa hè trước cửa hàng Thế giới điện máy Tuấn Hưng có dựng 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ, BKS: 98B3 - 777.55 của chị Nguyễn Thị Thuỳ Dung, sinh năm 1999 trú tại thôn Đống Mối, xã Hương Mai, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khoá điện của xe. Kh lái xe đi qua cửa hàng quan sát thấy không có ai trông coi liền vòng xe quay lại gần chiếc xe Vision, đỗ xe ngay cạnh rồi nhanh chóng ngồi lên chiếc xe Vision, vặn mở khóa nổ máy tẩu thoát, bỏ lại chiếc xe Kh đi đến. Sau đó, Kh điều khiển chiếc xe trộm cắp được đến khu đô thị sau siêu thị Go, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang bán cho người đàn ông đã mua chiếc xe mô tô Honda Lead mà Kh trộm cắp được ngày 30/9/2023, được số tiền 8.200.000 đồng. Số tiền này Kh đã chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 04/12/2023, chị Nguyễn Thị Thùy Dcó đơn trình báo Công an huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đồng thời giao nộp chiếc xe mô tô mang BKS: 21T3-1132, đã qua sử dụng.

Vụ thứ tư: Kh tiếp tục mua 01 xe mô tô mang BKS: 98N5 -1641 từ một người không quen biết qua mạng xã hội Facebook để đi trộm cắp tài sản. Khoảng hơn 12 giờ ngày 18/10/2023, Kh một mình điều khiển chiếc xe mô tô này đi từ phòng trọ về thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang để tìm kiếm, trộm cắp xe mô tô. Khi đi trên đường Trường Chinh thuộc địa phận Tổ dân phố số 3, thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, Kh phát hiện có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đen, BKS: 98D1-722.10 của anh Lê Văn Quý, sinh năm 1993 trú tại Tổ dân phố số 3, thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đang dựng trước cửa quán cắt tóc “D.O LÊ”, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khoá điện của xe. Kh lái xe đi qua cửa quán quan sát thấy không có ai trông coi liền vòng xe quay lại đỗ xe gần chiếc xe Vision này, xuống xe, bỏ lại chiếc xe đi đến, nhanh chóng ngồi lên chiếc xe Vision, vặn mở khóa nổ máy xe, điều khiển chiếc xe trộm cắp được về Khu công nghiệp Quang Châu, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

Tại đây, Kh nhắn tin liên hệ với Nguyễn Hữu C, sinh năm 1998, trú tại thôn Việt Ninh, xã Lương Phú, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên qua Zalo hỏi C có mua xe Vision không. Do Kh đã từng bán một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, BKS: 20F1-382.90 với giá 11.300.000 đồng cho C vào ngày 21/9/2023. Quá trình nhắn tin nói chuyện, hai bên thỏa thuận đổi lấy chiếc xe Airblade đã bán cho C trước đây với điều kiện Kh phải trả thêm 2.000.000 đồng thì Kh đồng ý. Khoảng 15 giờ cùng ngày, Kh và C gặp nhau gần Cụm công nghiệp Việt Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Kh và C trao đổi hai chiếc xe với nhau, rồi C nói với Kh: “Tao đi xe không cần gương” nên Kh đã tháo gương của chiếc xe Vision ra để vào cốp xe Airblade, đồng thời Kh đưa cho C số tiền 1.000.000 đồng, còn 1.000.000 đồng Kh hẹn sẽ chuyển cho C sau. Xong xuôi, C lái chiếc xe Vision về nhà, còn Kh lái chiếc xe Airblade về phòng trọ của mình. C điều khiển xe Vision đến đoạn đường thuộc địa phận thôn Tam Hợp, xã Thanh Vân, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang thì bị lực lượng Công an huyện Hiệp Hoà dừng xe kiểm tra và thu giữ của C: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đen, BKS: 98D1-722.10, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng).

Ngày 18/10/2023, anh Lê Văn Quý có đơn trình báo Công an thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Quá trình xác định hiện trường phát hiện, thu giữ 01 xe mô tô mang BKS: 98N5-1641, đã qua sử dụng.

Ngày 18/10/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Hiệp Hòa đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp số 44/LGN đối với Nguyễn Văn Kh. Quá trình giữ người trong trường hợp khẩn cấp tại Công an thị trấn Thắng đối với Nguyễn Văn Kh thu giữ: 01 đôi dép nhựa màu đen- trắng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus; 01 áo chống nắng màu xám, có nhiều hoa văn màu đen; 01 mũ bảo hiểm màu đen có chữ Bình Đạt; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade mang BKS: 20F1-382.90; 02 chiếc gương chiếu hậu xe mô tô; Số tiền 4.430.000 đồng

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp phòng trọ của Nguyễn Văn Kh. Thu giữ: 01 quần bò màu xám, tại cạp quần phía sau, có gắn mác màu đen, có ghi chữ BOTENG; 01 áo phông cộc tay màu đen, thân áo phía trên có nhiều họa tiết màu trắng; tại phía trước ngực bên trái và phía sau có chữ DSQUARED2. Kh khai nhận số quần áo trên là Kh mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp ngày 18/10/2023 tại TDP số 3, thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang (bút lục 54-55).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 65/KL-HĐĐGTS ngày 26/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hiệp Hòa, kết luận: “Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vission, màu đen, BKS: 98D1-722.10, số khung: 5815GY946460, số máy: JF66E0887829 đã qua sử dụng tại thời điểm tháng 10/2023 có giá 20.000.000 đồng; Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave anpha, màu vàng, BKS: 20F1-387.12, số khung 274143, số máy: 7274199 đã qua sử dụng tại thời điểm tháng 10/2023 có giá 13.000.000 đồng; Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu xám, BKS: 98D1-210.56, số khung: 013109, số máy 0018586 đã qua sử dụng tại thời điểm tháng 10/2023 có giá 13.000.000 đồng. Tổng giá trị các tài sản: 46.000.000 đồng (bốn mươi sáu triệu đồng)”(bút lục 58-59)

Tại bản kết luận định giá tài sản số 215/KL-HĐĐGTS ngày 05/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Việt Yên, kết luận:

“Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ, đen, bạc biển kiểm soát: 98B3-777.55, đã qua sử dụng, tại thời điểm ngày 14/10/2023 có giá 21.000.000 đồng (Hai mươi mốt triệu đồng). (bút lục 66).

Tại Bản cáo trạng số 20/CT-VKS ngày 31 tháng 01 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Kh về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố; Bị cáo biết mình đã sai, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa và một số tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự Xử:

1.Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Kh từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 08 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tình từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 18/10/2023.

2.Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46 BLHS, Điều 589 BLDS.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn Kh phải trả cho các bị hại gồm: chị Nguyễn Thị Ng 13.000.000; chị Bùi Thị H 13.000.000 đồng; chị Nguyễn Thị Thùy Dlà 21.000.000 đồng;

Buộc bị cáo Nguyễn Văn Kh phải trả cho anh Nguyễn Hữu C 10.300.000 đồng

3.Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2; Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy gồm:

01 đôi dép nhựa màu đen, trắng;

01 áo chống nắng màu xám, có nhiều hoa văn màu đen;

01 mũ bảo hiểm màu đen có chữ “Bình Đạt”;

01 quần bò dài màu xám, tại cạp quần phía sau, có gắn mác màu đen, có ghi

chữ BOTENG;

01 áo phông cộc tay màu đen, thân áo phía trên có nhiều họa tiết màu trắng; tại phía trước ngực bên trái và phía sau có chữ DSQUARED2.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước gồm:

-01 (một) chiếc xe mô tô kiểu dáng xe Dream; Số khung 001523; Số máy 0057673… lắp BKS: 98N5-1641;

-01 (một) chiếc xe mô tô BKS: 22H8-8679; Số khung:159474; Số máy: 00220031

-01 (một) chiếc xe mô tô lắp BKS: 98N7-7445 kiểu dáng xe Dream; Số khung 001523; Số máy 028041

- 01 (một) chiếc xe mô tô lắp BKS: 21T3-1132; Số máy 00378688

Trả lại cho bị cáo Kh gồm: 01 chiếc điện thoại - 01(một)chiếc điện thoại di động Iphone 7 plus, có số Imei: 359180072794156; Số tiền 4.430.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade đen - bạc; Số máy:JF 63E1475638; Số khung: 6306FZ 121573; Lắp biển số 20F1-382.90. Nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Trả lại cho anh Nguyễn Hữu C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, có số Imei359180072794156 (Đã niêm phong); Số tiền 1.000.000 đồng.

Trả lại anh Lê Văn Quý: 02 chiếc gương chiếu hậu xe mô tô được tháo ra từ xe mô tô BKS: 98D1-722.10 của anh Lê Văn Quý.

4. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về sự vắng mặt của Bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ vắng mặt, tuy nhiên đã có đầy đủ lời khai của họ trong hồ sơ, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 292; Khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; lời khai của bị hại; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận:

Trong khoảng thời gian từ tháng ngày 30/9/2023 đến ngày 18/10/2023, một mình Nguyễn Văn Kh đã thực hiện hành vi trộm cắp xe mô tô trên địa bàn huyện Hiệp Hòa và huyện Việt Yên của anh Lê Văn Quý, chị Nguyễn Thị Ng, chị Bùi Thị H và chị Nguyễn Thị Thùy Dung. Tổng trị giá tài sản Nguyễn Văn Kh trộm cắp là 67.000.000 đồng (sáu mươi bảy triệu đồng).

Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Chỉ vì lợi ích trước mắt, bị cáo đã phạm tội chiếm đoạt tài sản của người khác, bị cáo là người có có nhân thân xấu, chứng tỏ bị cáo là con người coi thường pháp luật. Do vậy cần phải xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần (hai lần trở lên), do vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Từ những nhận định trên đây, thấy cần phải có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích và biết tuân thủ pháp luật.

Bị cáo đang bị tạm giam, cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: chị Nguyễn Thị Ng yêu cầu bị cáo bồi thường 13.000.000 đồng, chị Bùi Thị H yêu cầu bị cáo bồi thường 13.000.000 đồng;chị Nguyễn Thị Thùy Dyêu cầu bị cáo bồi thường 21.000.000 đồng theo kết quả định giá tài sản. Anh Nguyễn Hữu C yêu cầu bị cáo Kh bồi thường số tiền 10.300.000 đồng là số tiền C bỏ ra để mua xe. Đến nay bị cáo Kh chưa bồi thường khoản tiền nào.

Tại phiên tòa bị cáo Kh đồng ý với yêu cầu bồi thường của các bị hại và người liên quan. Nên cần buộc bị cáo phải bồi thường trách nhiệm dân sự cho các bị hại và người liên quan là phù hợp với quy định tại Điều 46 BLHS, Điều 589 BLDS.

Đối với bị hại anh Quý đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu gì về dân sự nên không đặt ra xem xét.

Đối với vật chứng của vụ án:

- Đối với: 01 đôi dép nhựa màu đen, trắng; 01 áo chống nắng màu xám, có nhiều hoa văn màu đen; 01 mũ bảo hiểm màu đen có chữ “Bình Đạt”; 01 quần bò màu xám, tại cạp quần phía sau, có gắn mác màu đen, có ghi chữ BOTENG; 01 áo phông cộc tay màu đen, thân áo phía trên có nhiều họa tiết màu trắng; tại phía trước ngực bên trái và phía sau có chữ DSQUARED2 là trang phục bị cáo Kh mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus; Số tiền 4.430.000 đồng là tài sản của Kh không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo, nhưng cần tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S; Số tiền 1.000.000 đồng là của Nguyễn Hữu C, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cấn trả lại cho anh C.

- Đối với 02 chiếc gương chiếu hậu xe mô tô được tháo ra từ xe mô tô BKS: 98D1-722.10 của anh Lê Văn Quý nên cần trả lại cho anh Quý.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đen, biển kiểm soát 98D1-722.10 do C giao nộp. Ngày 05/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa đã trả lại cho anh Lê Văn Quý chiếc xe mô tô trên là có căn cứ.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade biển số 20F1-382.90 là tài sản chị Trần Thị Bích Hạnh, đã chuyển nhượng cho bị cáo Kh, để trả khoản nợ mà chị Hạnh vay nợ của Kh, chị Hạnh tại cơ quan điều tra không có yêu cầu trả lại xe, xét thấy xe trên không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần trả lại cho bị cáo Kh, nhưng cần tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

- Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô lắp BKS: 98N5-1641, qua xác kiểm tra phát hiện biển số xe là của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wedding đăng ký tên anh Nguyễn Văn Thắng, sinh 1969 ở thôn thôn Sông Cùng, xã Tân Hưng, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Năm 2020, anh Thắng đã bán xe cho một người không rõ tên tuổi, địa chỉ; kết quả tra cứu chiếc xe này không có trong dữ liệu xe vật chứng. Còn về chiếc xe có số khung 001532, số máy: 052705 là của chiếc xe mô tô có BKS: 22-633-F4, đăng ký chủ sở hữu mang tên Hoàng Thành Đo ở thôn Thái Thủy, xã Thái Sơn, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang, qua xác minh tại địa phương không có ai tên Hoàng Thành Đo, chiếc xe không có trong kho vật chứng là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

- Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu TIANMA, màu đen lắp BKS: 22H8-8679, qua xác minh chiếc xe này đăng ký tên chị Ma Thị Ảnh, sinh 1975 ở thôn thôn Sông Cùng, xã Tân Hưng, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Năm 2012, chị Ảnh đã bán xe cho một người không rõ tên tuổi, địa chỉ; kết quả tra cứu chiếc xe này không có trong dữ liệu xe vật chứng là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

- Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu SONKA, màu nâu lắp BKS: 98N7-7445, qua xác minh chiếc xe này đăng ký tên anh Đỗ Văn Hưng, sinh 1962 ở thôn Dĩnh Sơn, xã Trung Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Năm 2014, anh Hưng đã bán xe cho một người không rõ tên tuổi, địa chỉ là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

- Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu RIVER, màu xanh lắp BKS: 21T3-1132, qua xác minh chiếc xe này đăng ký tên anh Nguyễn Hương Yên, sinh 1966 ở thôn Phúc Linh, xã Lâm Giang, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Năm 2010, anh Yên đã bán xe cho một người không rõ tên tuổi, địa chỉ; kết quả tra cứu chiếc xe này không có trong dữ liệu xe vật chứng là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng: Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự

Tuyên Xử:

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Kh 02 (hai) năm 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.Thời hạn tù tình từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 18/10/2023.

3.Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46 BLHS, Điều 589 BLDS.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn Kh phải trả cho các bị hại gồm: chị Nguyễn Thị Ng 13.000.000 đồng; chị Bùi Thị H 13.000.000 đồng; chị Nguyễn Thị Thùy Dlà 21.000.000 đồng.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn Kh phải trả cho Anh Nguyễn Hữu C 10.300.000 đồng

Kể từ ngày có quyết định thi hành án nếu bị cáo không trả số tiền nêu trên thì hàng tháng còn chịu số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chưa thi hành án tại thời điểm thi hành án theo quy định tại điều 357 của Bộ luật dân sự.

4. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2; Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy gồm:

- 01 (một) đôi dép nhựa màu đen, trắng;

- 01(một) áo chống nắng màu xám, có nhiều hoa văn màu đen;

- 01(một) mũ bảo hiểm màu đen có chữ “Bình Đạt”;

- 01 (một) quần bò dài màu xám, tại cạp quần phía sau, có gắn mác màu đen,

có ghi chữ BOTENG;

- 01(một) áo phông cộc tay màu đen, thân áo phía trên có nhiều họa tiết màu

trắng; tại phía trước ngực bên trái và phía sau có chữ DSQUARED2.

( Tất cả có đặc điểm theo biên bản bàn giao vật chứng)

Tịch thu sung công quỹ nhà nước gồm:

-01(một) chiếc xe mô tô kiểu dáng xe Dream; Số khung 001523; Số máy 0057673… lắp BKS: 98N5-1641;

-01(một) chiếc xe mô tô BKS: 22H8-8679; Số khung:159474; Số máy: 00220031

-01(một) chiếc xe mô tô lắp BKS: 98N7-7445 kiểu dáng xe Dream; Số khung 028041; Số máy 028041

- 01(một) chiếc xe mô tô lắp BKS: 21T3-1132; Số máy 00378688

Trả lại cho bị cáo Kh gồm:

- 01(một)chiếc điện thoại di động Iphone 7 plus, có số Imei: 359180072794156 (đã niêm phong);

- Số tiền 4.430.000 đồng;

- 01(một)xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade đen - bạc; Số máy:JF 63E1475638; Số khung: 6306FZ 121573; Lắp biển số 20F1-382.90.

Nhưng cần tạm giữ các tài sản trên để đảm bảo việc thi hành án.

Trả lại cho anh Nguyễn Hữu C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, có số Imei 354954074324740 (Đã niêm phong); Số tiền 1.000.000 đồng.

Trả lại anh Lê Văn Quý: 02 chiếc gương chiếu hậu xe mô tô được tháo ra từ xe mô tô BKS: 98D1-722.10.

5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326 của UBTVQH.

Buộc Bị cáo Nguyễn Văn Kh phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.865.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

6.Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự,

Bị cáo; bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc hợp lệ niêm yết bản án.

7. Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự ./

Cỡ chữ