vanban.org

Bản án 18/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 14/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn Phí phạm t: “Trốn khỏi nơi giam”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 07 tháng 16 ngày tù mà bị cáo chưa chấp hành của Bản án số: 82/2023/HS-ST ngày 15/6/2023 của Tòa án nhân dân TP. Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận. Buộc bị cáo Nguyễn Văn P phải chấp hành 02 bản án là 02 (hai) năm 01 (một) t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Phí - phạm tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị dẫn giải,đang bị xét xử (điều 311 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn Phí phạm t: “Trốn khỏi nơi giam”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 386 Bộ luật Hình sự
ÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM TÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18 /2024/HS-ST
Ngày: 14/3/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Đình Khương

Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Quang Sơn và ông Phạm Hữu Ái

Thư ký phiên tòa: Ông Võ Chí Công – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2024, tại Điểm cầu trung tâm là Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân và Đ cầu thành phần là nhà tạm giữ Công an (có sự tham gia của cán bộ Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân là ông Nguyễn Việt A và các chiến sỹ Công an gồm ông Nguyễn Văn V, Đỗ Văn T, Tô Văn T1 và Phạm Đình T2).

Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân tiến hành mở phiên tòa trực tuyến để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 02/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn P (tên gọi khác: không), sinh năm: 1988, tại Ninh Thuận.

Hộ khẩu thường trú: Khu phố F, phường V, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận.

Hiện đang chấp hành hình phạt tại phân Trại 3 - Trại giam T5.

- Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

- Cha: Nguyễn S, sinh năm 1965; Mẹ: Lê Thị X, sinh năm 1965. Trú tại: Khu phố F, phường V, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận. Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ hai.

- Vợ: Phùng Thị Thu N, sinh năm 1989;

- Con: có 01 con chung, sinh năm 2022.

- Tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 82/2023/HS-ST ngày 15/6/2023 của Tòa án nhân dân TP. Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận, Nguyễn Văn P bị xử phạt 15 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

- Tiền sự: không

- Nhân thân: Ngày 18/9/2010, Nguyễn Văn P bị Công an phường T, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt 80.000 đồng về hành vi “Gây mất trật tự công cộng”.

Bị cáo Nguyễn Văn P bị bắt chấp hành hình phạt tù ngày 28/7/2023, hiện đang chấp hành hình phạt tại phân Trại 3 - Trại giam T5.

Bị cáo tạm giam, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Văn P là phạm nhân đang chấp hành án tại P, Trại giam T5 thuộc địa bàn xã T, huyện H với mức án 15 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 82/2023/HS-ST ngày 15/6/2023 của Tòa án nhân dân TP. Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận.

Khoảng 07 giờ 40 phút ngày 14/10/2023, trong lúc nói chuyện tâm sự với phạm nhân Phạm Minh S1 và phạm nhân Đinh Văn T3, tại buồng giam II.2 của P1 trại 3, Trại giam T5 thì Nguyễn Văn P mặc cảm về hoàn cảnh của mình có vợ và 04 con nhưng chỉ có 01 con chung với vợ; Bản thân lại không biết chữ nên P lao đầu vào tường buồng giam nhằm gây ra thương tích cho mình để được chuyển qua Phân trại khác nhằm tránh bị các phạm nhân cùng phòng dèm pha. Thấy vậy, phạm nhân S1 và T3 kéo giữ Phí ngăn cản và báo cán bộ Phân trại đến giải quyết. Lúc này, ông Nguyễn Vĩnh K (là cán bộ trinh sát của Phân trại 3) vào còng tay P đưa đến phòng điều trị bệnh số II.8 của Bệnh xá trong khuôn viên Phân trại 3 để khám vết thương nhưng P không bị thương tích gì nên ông K qua phòng làm việc của cán bộ y tế kề bên lập biên bản vụ việc. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, P xin ông Kim m khóa còng tay để ăn cơm thì ông Kim m khóa cho P rồi qua lại phòng của cán bộ y tế làm việc. Khoảng 05 phút sau, lợi dụng ông K không để ý, P lén lút đi ra khỏi phòng điều trị bệnh chạy tới hàng rào kẽm gai bên hông, phía sau Bệnh xá rồi leo qua hàng rào kẽm gai bỏ chạy men theo tường rào xây bao quanh Phân trại 3 nhằm chạy thoát ra ngoài. Chạy được khoảng 200 mét, gặp hàng rào kẽm gai ngăn cách giữa khu giam giữ phạm nhân nam với khu giam giữ phạm nhân nữ thì P chui qua khe hẹp của hàng rào qua bên khu vực giam giữ của phạm nhân nữ rồi tiếp tục chạy men theo tường rào được khoảng 40 mét thấy có một số cây gỗ được dựng chống đỡ tường rào (do tường rào bị nghiêng nên trước đó P1 trại 3 dùng một số cây gỗ chống đỡ đề phòng tường sập), P liền bám trên cây gỗ trèo lên tới đỉnh tường rào rồi nhảy xuống đất ra phía bên ngoài khu giam giữ của Phân trại 3 để chạy thoát thì cùng lúc 02 cán bộ cảnh sát bảo vệ của Phân trại 3 là ông Bùi Văn T4 và ông Nguyễn Thế L truy đuổi kịp và bắt giữ P.

* Vật chứng thu giữ: không

Tại bản cáo trạng số: 05/CT-VKS ngày 19 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo Nguyễn Văn P về tội “Trốn khỏi nơi giam” theo khoản 1 Điều 386 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân giữ quyền công tố luận tội và đã phân tích hành vi phạm tội đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Nguyễn Văn Phí phạm t “Trốn khỏi nơi giam” như nội dung Cáo trạng, đồng thời xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 386; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Áp dụng khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự; Tổng hợp hình phạt mà bị cáo chưa chấp hành của Bản án số: 82/2023/HS-ST ngày 15/6/2023 của Tòa án nhân dân TP. Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận theo quy định pháp luật. * Ý kiến của bị cáo: Không tranh luận và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan Điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn P đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu; Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sơ xác định: Nguyễn Văn P là phạm nhân đang chấp hành án tại P, Trại giam T5, thuộc Cục C thuộc Bộ C1.

Bị cáo Nguyễn Văn P là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức và biết rõ hành vi lợi dụng sơ hở của cán bộ quản lý trại giam để lén lút trốn khỏi nơi giam nhằm trốn tránh việc chấp hành án là vi phạm pháp luật. Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trốn khỏi nơi giam”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 386 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân truy tố bị cáo Nguyễn Văn P về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi của Nguyễn Văn P là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tư tưởng và việc chấp hành án của phạm nhân khác trong trại giam, vi phạm nghiêm trọng về nội quy, quy định của trại giam. Hơn nữa, hành vi trốn khỏi nơi giam của bị cáo không chỉ xâm phạm đến công tác quản lý và giáo dục phạm nhân của Trại giam T5 mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo có nhận thân xấu, đã kết án về tội “Cố ý gây thương tích”, chưa được xoá án tích và đanh chấp hành hình phạt nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo thể hiện sự bất chấp, xem thường kỷ cương, pháp luật của Nhà nước nên Hội đồng xét xử cần xử lý nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội nhằm giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Nguyễn Văn P phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn Phí phạm t: “Trốn khỏi nơi giam”

Căn cứ khoản 1 Điều 386, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 07 tháng 16 ngày tù mà bị cáo chưa chấp hành của Bản án số: 82/2023/HS-ST ngày 15/6/2023 của Tòa án nhân dân TP. Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận. Buộc bị cáo Nguyễn Văn P phải chấp hành 02 bản án là 02 (hai) năm 01 (một) tháng 16 ngày tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày xét xử sơ thẩm 14/3/2024.

2. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 23; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn P phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. * Nơi nhận:

Cỡ chữ