- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho bà Phạm Bé H được ly hôn với ông Châu Công H1.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TIÊN TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2024/HNGĐ-ST Ngày: 10-9-2024 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mạc Văn Hên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lâm Lệ Oanh.
2. Bà Nguyễn Thị Mỹ Phượng.
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Cẩm Tú, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Tiên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tiên tham gia phiên toà: Bà Lâm Thanh Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 140/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 28 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phạm Bé H, sinh năm 1984. Địa chỉ: Tổ B, đường T, khu phố E, phường B, thành phố H, tỉnh Kiên Giang, có mặt.
2. Bị đơn: Ông Châu Công H1, sinh năm 1980. Địa chỉ: Tổ B, đường T, khu phố E, phường B, thành phố H, tỉnh Kiên Giang, có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 15/7/2024 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Phạm Bé H trình bày: Bà và ông Châu Công H1 chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 29/7/2008. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do ông H1 không lo làm ăn thường xuyên đánh bạc và ăn nhậu không có trách nhiệm với vợ con, mỗi lần bà nói thì ông H1 la mắng và muốn đánh bà, nay bà phát hiện ông H1 ngoại tình với người phụ nữ khác nhưng ông H1 không đồng ý chấm dứt với người phụ nữ này từ đó tình cảm vợ chồng bị rạn nứt. Nay tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Châu Công H1. Về con chung bà và ông H2 chung sống có 02 con chung tên Châu Công N, sinh ngày 27/8/2009, giới tính nam và Châu Công C, sinh ngày 25/11/2017, giới tính nam. Ly hôn, bà đồng ý giao các con cho ông H1 nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, bà không cấp dưỡng. Về tài sản chung bà và ông H1 tự thỏa thuận phân chia; Về nợ chung không có.
Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 20/8/2024 bị đơn ông Châu Công H1 trình bày: Ông và bà H chung sống được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 29/7/2008. Quá trình chung sống vợ chồng không có tiếng nói chung thường xảy ra mâu thuẫn. Bà H xin ly hôn ông đồng ý ly hôn. Về con chung có 02 đứa con tên Châu Công N, sinh ngày 27/8/2009, giới tính nam và Châu Công C, sinh ngày 25/11/2017, giới tính nam. Ly hôn, ông xin được nuôi các con đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu bà H cấp dưỡng. Nếu bà H xin nuôi hai đứa con thì ông đồng ý giao cho bà H nuôi dưỡng và ông không cấp dưỡng. Về tài sản chung vợ chồng tự thỏa thuận, về nợ chung không có.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tiên phát biểu về việc tuân theo tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về việc tuân theo tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, đương sự thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Bà Phạm Bé H và ông Châu Công H1 chung sống với nhau và được UBND xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn, trong quá trình chung sống ông bà thường xảy ra nhiều mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống. Xét thấy tình trạng hôn nhân của ông bà đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được bà H xin ly hôn ông Hiệp đồng Ý ly hôn nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H. Về con chung đề nghị giao hai con chung tên Châu Công N, sinh ngày 27/8/2009, giới tính nam và Châu Công C, sinh ngày 25/11/2017, giới tính nam cho ông Châu Công H1 trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, ghi nhận sự tự nguyện của ông H1 không yêu cầu bà H cấp dưỡng. Về tài sản chung vợ chồng tự thỏa thuận phân chia và nợ chung không có nên không xem xét, giải quyết. Về án phí bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, lời trình bày của bị đơn và căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp ly hôn. Trong vụ án này bị đơn ông Châu Công H1 cư trú tại khu phố E, phường B, thành phố H, tỉnh Kiên Giang nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hà Tiên.
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Châu Công H1 có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật.
Về hôn nhân: Bà Phạm Bé H và ông Châu Công H1 chung sống với nhau có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 29/7/2008 nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống ông bà phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, bà H xin ly hôn ông Hiệp đồng Ý ly hôn. Xét thấy, ông bà không còn yêu thương chăm sóc cho nhau nữa, đã bỏ mặc nhau muốn sống ra sao thì sống, chứng tỏ tình trạng hôn nhân của ông bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H là ph hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Ông bà chung sống có 02 con chung tên Châu Công N, sinh ngày 27/8/2009, giới tính nam và Châu Công C, sinh ngày 25/11/2017, giới tính nam. Ly hôn, ông H1 yêu cầu được nuôi hai con chung đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu cấp dưỡng. Phía bà H đồng ý giao hai con chung cho ông H1 nuôi dưỡng nên cần giao hai đứa con cho ông H1 nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành là ph hợp với nguyện vọng của con, ghi nhận ý kiến của ông H1 không yêu cầu bà H cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Bà H trình bày vợ chồng đã tự thỏa thuận phân chia nên không xem xét.
Về nợ chung: Bà H trình bày không có nên không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Bà Phạm Bé H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho bà Phạm Bé H được ly hôn với ông Châu Công H1.
2. Về con chung: Giao Châu Công N, sinh ngày 27/8/2009, giới tính nam và Châu Công C, sinh ngày 25/11/2017, giới tính nam cho ông Châu Công H1 nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, ghi nhận sự tự nguyện của ông H1 không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con chung. Ông H1 c ng các thành viên trong gia đình không được cản trở bà H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung: Đã tự thỏa phân chia nên không xem xét, giải quyết.
4. Về nợ chung: Không có nên không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Bà Phạm Bé H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, đối trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0002087 ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang nên bà không phải nộp thêm.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND thành phố Hà Tiên; - Chi cục THADS thành phố Hà Tiên; - UBND xã Thạnh Đông, huyện Tân Hiệp; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Mạc Văn Hên |