vanban.org

Bản án 18/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Đỗ Hùng V; ông Đỗ Hùng V được ly hôn với bà Nguyễn Thị Tuyết G.

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Giao 02 (hai) con chung là Đỗ Hùng D - sinh ngày 30 tháng 7 năm 2008 và Đỗ Yến N - sinh ngày 21 tháng 10 năm 2012 cho bà Nguyễn Thị Tuyết G được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các con chung lần lượt đủ 18 (mười tám) tuổi. Ông … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ông Đỗ Hùng V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Nguyễn Thị Tuyết G"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Đỗ Hùng V; ông Đỗ Hùng V được ly hôn với bà Nguyễn Thị Tuyết G.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VẠN NINH
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2024/HNGĐ-ST
Ngày 18 tháng 7 năm 2024
V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vi Nhật Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Tám

Bà Vũ Thị Kim Trinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Vui - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Tiến Huynh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 26/2024/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2024 về việc: “Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Đỗ Hùng V - sinh năm: 1984; Trú tại: Thôn P N, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. (Có mặt).

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết G - sinh năm: 1981; Trú tại: Thôn P N, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 12 năm 2023 (nộp Tòa án cùng ngày); biên bản lấy lời khai, biên bản không tiến hành hòa giải được và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn ông Đỗ Hùng V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị Tuyết G tự nguyện yêu thương, về sống chung với nhau, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 19 tháng 9 năm 2008.

Sau khi kết hôn ông và bà G về chung sống tại Thôn P N, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Quá trình sống chung, thời gian đầu giữa vợ chồng ông có hạnh phúc nhưng về sau thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do cả hai bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng thường xuyên cãi vã, cuộc sống gia đình không hạnh phúc. Năm 2019, bà G đã tự ý dẫn hai con chung bỏ nhà đi, không biết đi đâu làm gì, ông đã tìm kiếm bà G nhiều lần nhưng không có kết quả, không thể liên lạc được với bà G. Năm 2023, ông đã yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh tiến hành thủ tục Tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú, Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh đã có Quyết định số 04/2023/QĐ-TA ngày 14/9/2023 Thông báo Tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú đối với bà G; đến nay, bà G vẫn chưa quay về địa phương cũng như liên lạc với ông. Hiện tại, ông xác định tình cảm giữa vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn được nữa nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Nguyễn Thị Tuyết G.

Về con chung: Giữa vợ chồng ông bà có 02 con chung là Đỗ Hùng D - sinh ngày 30 tháng 7 năm 2008 và Đỗ Yến N - sinh ngày 21 tháng 10 năm 2012. Hiện tại hai con chung đang sinh sống cùng với bà G nên ông đề nghị giao cho bà G tiếp tục được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các con chung lần lượt đủ 18 (mười tám) tuổi; ông không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Ông V không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Ông V xác định giữa ông và bà G không có nợ chung.

Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Tuyết G, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà G theo quy định của pháp luật, cụ thể: Thông báo về việc thụ lý vụ án; các giấy triệu tập; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa để bà G thực hiện các quyền và nghĩa vụ của đương sự cũng như tham gia phiên tòa nhưng bà G đều vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa phát biểu:

1. Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán đã thực hiện đúng nội dung quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm; nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

2. Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận các yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Đỗ Hùng V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Nguyễn Thị Tuyết G. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp giữa ông V và bà G là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình”; Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa là Tòa án nơi mà bà Nguyễn Thị Tuyết G cư trú theo quy định tại Điều 35 và diểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, bị đơn bà Nguyễn Thị Tuyết G dù đã được Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn bà Nguyễn Thị Tuyết G.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Đỗ Hùng V và bà Nguyễn Thị Tuyết G tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 19/9/2008. Vì vậy quan hệ hôn nhân giữa ông Đỗ Hùng V, bà Nguyễn Thị Tuyết G được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Đỗ Hùng V vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với bị đơn bà Nguyễn Thị Tuyết G. Về nguyên nhân gây ra mâu thuẫn giữa ông V và bà G, theo ông V xác định: Do cả hai bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng thường xuyên cãi vã, cuộc sống gia đình không hạnh phúc. Năm 2019, bà G đã tự ý dẫn hai con chung bỏ nhà đi, không biết đi đâu làm gì, ông và gia đình không thể liên lạc được với bà G. Sau đó, ông đã yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh tiến hành thủ tục tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú đối với bà G, từ đó đến nay, bà G vẫn chưa quay về địa phương cũng như liên lạc với ông.

Ngày 14/9/2023, Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa đã có Quyết định số 04/2023/QĐ-TA ngày 14/9/2023 thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú đối với bà Nguyễn Thị G. Đến nay, đã hơn 10 (mười) tháng, kể từ khi Tòa án đăng thông báo tìm kiếm nhưng bà Nguyễn Thị Tuyết G vẫn không trở về địa phương. Qua xác minh ngày 18/01/2024, Công an xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa xác nhận bà Nguyễn Thị Tuyết G vẫn chưa trở về địa phương. Như vậy, có thể xác định ông V, bà G đã không còn sinh sống với nhau từ lâu.

Quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị Tuyết G cũng đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần để giải quyết việc ly hôn giữa bà và ông Đỗ Hùng V nhưng bà G đều không có mặt để làm việc. Điều đó chứng tỏ bà G đã không còn quan tâm gì đến cuộc hôn nhân giữa bà và ông V nữa.

Xét thấy mâu thuẫn giữa ông Đỗ Hùng V và bà Nguyễn Thị Tuyết G đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng thực sự không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Đỗ Hùng V đối với bà Nguyễn Thị Tuyết G.

Về con chung: Giữa ông V và bà Giàu có 02 (hai) con chung là Đỗ Hùng D - sinh ngày 30 tháng 7 năm 2008 và Đỗ Yến N - sinh ngày 21 tháng 10 năm 2012. Hiện tại hai con chung đang sinh sống cùng với bà G nên ông đề nghị giao cho bà G tiếp tục được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các con chung lần lượt đủ 18 (mười tám) tuổi;

Qua xác minh tại Công an xã V (biên bản xác minh ngày 18/01/2024) cũng như lời khai của ông Đỗ Hùng V thì sau khi ông V, bà G không còn sống chung thì 02 (hai) con chung Đỗ Hùng D, Đỗ Yến N hiện đang sinh sống cùng bà Nguyễn Thị Tuyết G.

Để tạo điều kiện phát triển cho các con chung, xét thấy cần tiếp tục giao 02 (hai) con chung là Đỗ Hùng D, Đỗ Yến N cho bà Nguyễn Thị Tuyết G được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các con chung lần lượt đủ 18 (mười tám) tuổi là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên cần chấp nhận yêu cầu này của ông Đỗ Hùng V.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị Tuyết G do không có mặt tại phiên tòa nên không có ý kiến về cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xét.

Về tài sản chung: Ông V xác định giữa ông và bà G không có tài sản chung.

Về nợ chung: Ông V xác định ông và bà G không có nợ chung.

Về án phí: Ông Đỗ Hùng V phải chịu án phí HNGĐ sơ thẩm.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nguyên đơn là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, M , nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Đỗ Hùng V; ông Đỗ Hùng V được ly hôn với bà Nguyễn Thị Tuyết G.

2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung:

Giao 02 (hai) con chung là Đỗ Hùng D - sinh ngày 30 tháng 7 năm 2008 và Đỗ Yến N - sinh ngày 21 tháng 10 năm 2012 cho bà Nguyễn Thị Tuyết G được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các con chung lần lượt đủ 18 (mười tám) tuổi. Ông Đỗ Hùng V không cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Đỗ Hùng V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Trong quá trình nuôi dưỡng con chung; nếu xét thấy cần thiết, ông V và bà Giàu có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung, cũng như về cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung: Ông V xác định giữa ông và bà G không có tài sản chung.

4. Về án phí: Ông Đỗ Hùng V phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006796 ngày 05 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vạn Ninh. Ông V đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ