- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án xin ly hôn giữa Hà Thị Thuý T và Lý Ngọc C"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị Thuý T được ly hôn anh Lý Ngọc C.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN TỊNH TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2024/HNGĐ-ST Ngày 11/3/2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN TỊNH, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Ân.
Các hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Thanh Hải
- Bà Đào Thị Thu Đoàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nga - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Võ Duy Hoàng Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2023 về việc“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2024/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hà Thị Thuý T, sinh năm: 1986; có mặt.
Nơi cư trú: Xóm 6, thôn T, xã P, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi.
Chỗ ở hiện nay: Xóm 6, thôn T1, xã T2, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi.
- Bị đơn: Anh Lý Ngọc C, sinh năm: 1983; vắng mặt không có lý do.
Nơi cư trú: Xóm 6, thôn T, xã P, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hoà giải và tại phiên tòa nguyên đơn chị Hà Thị Thuý T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lý Ngọc C trước khi kết hôn có tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã P, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 15/9/2016. Sau ngày kết hôn vợ chồng chị sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, luôn bất đồng quan điểm sống, anh C thường hay nhậu nhẹt, cờ bạc ham chơi với bạn bè, không quan tâm vợ con, ngoài ra anh C còn hay có tính nghen tuông vô cớ, khi say xỉn thường kiếm chuyện chửi bới, đánh đập chị, vợ chồng thường xuyên cãi vã và vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2021. Vào tháng 01 năm 2023 chị T đã nộp đơn xin ly hôn nhưng sau đó đã rút đơn để vợ chồng đoàn tụ nhưng vợ chồng vẫn không hàn gắn được.
Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lý Ngọc C.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con là Lý Công D, sinh ngày 27 tháng 3 năm 2017, hiện nay chị đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết; vợ chồng không nợ ai và không cho ai vay mượn.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn anh Lý Ngọc C vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến của mình.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Tịnh tại phiên tòa:
- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng là nguyên đơn đã tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, đối với bị đơn anh Lý Ngọc C không chấp hành theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Hà Thị Thuý T được ly hôn anh Lý Ngọc C.
Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Lý Công D, sinh ngày 27 tháng 3 năm 2017, hiện nay chị T đang nuôi dưỡng cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, anh C không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa giải quyết; về nợ chung: Không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết .
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Hà Thị Thuý T phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền: Chị Hà Thị Thuý T xin ly hôn anh Lý Ngọc C hiện đang cư trú tại thôn T, xã P, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi nên Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh thụ lý giải quyết là phù hợp với quy định tại Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Lý Ngọc C được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị Thuý T và anh Lý Ngọc C đăng ký kết hôn vào ngày 15/9/2016 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi là hôn nhân hợp pháp. Sau ngày kết hôn chị T và anh C sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng sống không hợp tính nhau, thường hay cãi vã, anh C không lo làm ăn mà có tính ham chơi, cờ bạc và vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2021 đến nay. Tại phiên tòa chị T vẫn yêu cầu Tòa giải quyết cho chị được ly hôn anh C.
Xét thấy: Sau khi kết hôn chị Hà Thị Thuý T và anh Lý Ngọc C sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng thường hay cãi vã và anh C đánh đập chị T nên vợ chồng đã sống ly thân. Chị T đã một lần nộp đơn xin ly hôn nhưng sau đó đã rút đơn nhưng vợ chồng vẫn không hàn gắn được. Như vậy đời sống hôn nhân của chị T và anh C đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, Hội đồng xét xử cho chị T được ly hôn với anh C là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Hà Thị Thuý T và anh Lý Ngọc C có 01 con tên là có 01 con là Lý Công D, sinh ngày 27 tháng 3 năm 2017, hiện nay chị T đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy hiện nay chị T đang nuôi dưỡng cháu Lý Công D, hiện tại cháu Dương đang có cuộc sống ổn định nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị T giao cháu Lý Công D cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Hà Thị Thuý T trình bày tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết; về nợ chung không có nên Hội Đồng xét xử không xem xét, giải quyết về tài sản chung và nợ chung.
Từ những nhận định trên, xét quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Tịnh là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Hà Thị Thuý T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, 235, 266, 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị Thuý T được ly hôn anh Lý Ngọc C.
2. Về con chung: Giao cháu Lý Công D, sinh ngày 27 tháng 3 năm 2017, hiện nay chị T đang nuôi dưỡng cho chị T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, anh Lý Ngọc C không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc người thân thích; cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ thì Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Hà Thị Thuý T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000502 ngày 11/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Sơn Tịnh, chị T đã nộp đủ án phí.
5. Kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND huyện Sơn Tịnh; - Chi cục THADS huyện Sơn Tịnh; - UBND xã Tịnh Phong; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Lương Đình Tiến Nguyễn Thanh Hải | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Phan Thị Kim Ân THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Tuyết Nga |