- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ông Đ xin ly hôn bà H"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân:
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2024/HNGĐ-ST Ngày: 11 - 4 – 2024 V/v Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Minh Đức
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Hoàn và ông Nguyễn Văn Chuyên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Ngoan – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thìn - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 162/2023/TLST- HNGĐ, ngày 16 tháng 11 năm 2023 về việc " Ly hôn", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2024, và Quyết định hoãn phiên tòa 15/2024/QĐST- HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Huy Đ , sinh năm 1962.
- Bị đơn: Bà Trần Thị H , sinh năm 1964.
Địa chỉ: Thôn x, xã V , huyện K , tỉnh Thái Bình.
( Ông Đ có đơn xin vắng mặt, bà H có mặt tại phiên tòa )
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu chứng cứ đã xuất trình thì nguyên đơn - ông Nguyễn Huy Đ có yêu cầu khởi kiện và trình bày như sau:
- Về quan hệ hôn nhân:
Ông và bà H có tìm hiểu và tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Vũ Quý, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình vào ngày 28/01/1992. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống và làm việc tại xã V , huyện K , tỉnh Thái Bình. Bà H làm việc tại Ngân hàng và hiện giờ đã nghỉ hưu, còn ông Đ thì làm việc tự do. Thời gian vợ chồng chung sống cùng nhau cũng được mấy chục năm nay, và đã có với nhau 02 con chung đều đã trưởng thành tuy nhiên cuộc sống vợ chồng ông tiềm ẩn nhiều mâu thuẫn thời gian đã quá lâu, ông bà cũng đã khắc phục và hàn gắn nhiều lần để cùng nhau nuôi các con trưởng thành. Đến nay do mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt, hai bên không thông cảm, không thấu hiểu nhau, không tìm được tiếng nói chung, và không còn tôn trọng nhau, ông không thể duy trì mối quan hệ vợ chồng với bà H được nữa, và ông mong muốn sống thoải mái thời gian tuổi già còn lại. Ông đề nghị tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà H .
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Thanh Th , sinh năm 1995 và con Nguyễn Ánh H , sinh 2000, các con đều đã trưởng thành không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
* Bị đơn bà Trần Thị H trình bày: Vợ chồng bà sau khi kết hôn và chung sống với nhau đến nay đã được hơn ba chục năm. Thời gian vợ chồng sống với nhau phát sinh nhiều mâu thuẫn, nhiều tranh cãi, sống ly thân từ năm 2022 đến nay, bản thân bà chịu nhiều áp lực từ phía chồng và gia đình nhà chồng, tuy nhiên vì các con bà đã cố gắng dung hòa các mối quan hệ, bà luôn mong muốn các con bà không bị bất cứ thiệt thòi, tai tiếng gì, muốn các con ổn định nên bà không đồng ý ly hôn, chấp nhận vợ chồng có thể sống ly thân.
Về con chung: Bà và ông Đ có hai con chung như ông Đ đã trình bày là đúng, hiện nay các con đều đã trưởng thành, con Nguyễn Thanh Th đã xây dựng gia đình.
Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
* Kết quả thu thập chứng cứ của Tòa án:
- Qua xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Vũ Quý ngày 28/12/2023 cán bộ đại diện cho Đoàn thể, đại diện chính quyền cung cấp cho biết: Ông Đ và bà H có hộ khẩu thường trú tại xã V . Ông Đ và bà H kết hôn tại xã Vũ Quý vào ngày 28/01/1992, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn 4 xã Vũ Quý, quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, tuy nhiên chưa có lần nào căng thẳng cần nhờ sự can thiệp, hòa giải của Đoàn thể, cở sở. Vợ chồng ông Đ bà H có 02 con đã trưởng thành.
Khoảng đầu năm 2023 ông Đ có xây thêm nhà cấp 4 ở thôn 5 xã Vũ Quý, bà H và các con vẫn ở thôn 4 xã V . Vợ chồng ông Đ bà H không vay mượn các tổ chức, đoàn thể tại địa phương.
Đề nghị Tòa án tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, trường hợp các bên vẫn cương quyết giữ nguyên quan điểm thì Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật:
Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 71,72,73 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Do vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể hòa hợp, đề nghị hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho ông Nguyễn Huy Đ được ly hôn bà Trần Thị H ; Về con chung, về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết; Về án phí: Ông Đ được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, hội đồng xét xử nhận định:
[I] Về pháp luật tố tụng:
Nguyên đơn là ông Nguyễn Huy Đ có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, bị đơn là bà Trần Thị H có mặt. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Đ là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành lấy lời khai các đương sự, xác minh tại ủy ban nhân dân xã Vũ Quý và thu thập tài liệu, chứng cứ để làm rõ tình trạng hôn nhân và địa chỉ cư trú của nguyên đơn, bị đơn vì vậy Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là đúng với quy định tại Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.
[II] Về pháp luật nội dung:
Về quan hệ hôn nhân:
Quan hệ hôn nhân của ông Đ và bà H có giấy chứng nhận kết hôn, đó là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống của vợ chồng ông Đ và bà H không được hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng xảy ra đã lâu, cả hai bên cũng đã cố gắng hàn gắn để chung sống nuôi con cái trưởng thành, nhưng thực tế thì vợ chồng không được hòa thuận. Từ năm 2022 vợ chồng đã sống ly thân mỗi người một nơi, không còn quan tâm đến nhau. Đến nay ông Đ xác định không thể đoàn tụ được nữa. Bà H không đồng ý ly hôn và có đưa ra giải pháp nhằm níu kéo cuộc hôn nhân khỏi đỗ vỡ nhưng ông Đ không đồng ý và bà H chấp nhận vợ chồng sống ly thân. Đoàn thể, cơ sở thôn động viên và Tòa án đã hòa giải nhưng không đi đến kết quả đoàn tụ vợ chồng. Như vậy chứng tỏ hôn nhân giữa ông Đ và bà H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần giải quyết cho ông Đ và bà H được ly hôn là phù hợp với quy định tại điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về quan hệ con chung:
Vợ chồng ông Đ bà H có hai con chung là Nguyễn Thanh Th , sinh năm 1995 và con Nguyễn Ánh H , sinh 2000, các con đều đã trưởng thành nên Tòa án không đặt ra giải quyết về việc trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Vì ông Đ bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Ông Đ là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ vào Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân:
Xử cho ông Nguyễn Huy Đ được ly hôn bà Trần Thị H .
2. Về con chung: Không đặt ra giải quyết.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
4. Về án phí: Ông Nguyễn Huy Đ được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo:
Án xử công khai, nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Kiến Xương; - Lưu hồ sơ; - Lưu Vp Tòa án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký ) Phạm Minh Đức |