- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| ATÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2024/HNGĐ-ST Ngày: 05/4/2024 “V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quách Trọng Sơn Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Tuyên và ông Nguyễn Hữu Lõi
- Thư ký phiên tòa: Phạm Thị Lâm Oanh – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song tham gia phiên toà: Ông Thái Lê Anh Tuấn - Kiểm sát viên. Ngày 05 tháng 4 năm 2024 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Đắk Song xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 221/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Chị Thị P, sinh năm 1983, có đơn xin xét xử vắng mặt Địa chỉ: Bon B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. 2. Bị đơn: Anh Điểu N, sinh năm 1980, có đơn xin xét xử vắng mặt. Địa chỉ: Bon B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện đề ngày 20/11/2023, bản tự khai, biên bản lấy lời khai của nguyên đơn chị Thị P trình bày: Chị Thị P và anh Điểu N đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông ngày 02/02/2004; việc kết hôn được dựa trên cơ sở tự nguyện. Trong quá trình chung sống, vợ chồng anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, cãi vã, không hợp nhau và không muốn sống với nhau nữa, chị Thị P và anh Điểu N không còn sống chung với nhau từ năm 2016 đến nay. Nên chị Thị P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị Thị P được ly hôn với anh Điểu N. Về con chung: Chị Thị P và anh Điểu N có 04 con chung là Thị M, sinh ngày 05/4/2005; Thị Mững, sinh ngày 01/12/2008; Thị Khương, sinh ngày 05/3/2012 và Điểu C, sinh ngày 17/4/2015. Hiện nay cháu Thị M đã đủ tuổi trưởng thành, đủ khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; đối với cháu Thị M1, Thị K và Điểu C, hiện nay đang ở với anh Điểu N nên chị Thị P đồng ý giao các con chung cho anh Đ Nher trực tiếp nuôi. Không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Không yêu cầu. Ngày 18/3/2024 chị Thị P có đơn xét xử vắng mặt.
- Theo lời khai của bị đơn, anh Điểu N có trong hồ sơ vụ án. Anh Điểu N và chị Thị P đăng ký kết hôn ngày 02/02/2004 tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Trong quá trình chung sống, chị Thị P và anh Điểu N có mâu thuẫn vợ chồng, chị Thị P đã bỏ nhà đi được 9 năm nay. Tuy nhiên, anh Điểu N không đồng ý ly hôn. Về con chung: Chị Thị P và anh Điểu N có 04 con chung là Thị M, sinh ngày 05/4/2005; Thị Mững, sinh ngày 01/12/2008; Thị Khương, sinh ngày 05/3/2012 và Điểu C, sinh ngày 17/4/2015. Anh Điểu N có nguyện vọng nuôi con chung sau ly hôn. Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngày 04/3/2024 anh Điểu N có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt. Đối với lời khai của con chung: Cháu Thị M1, Thị K và Điểu C có nguyện vọng ở với anh Điểu N. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và sự tuân theo pháp luật tố tụng của nguyên đơn, bị đơn trong vụ án:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký từ khi thụ lý vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình; sau khi đưa vụ án ra xét xử chị Thị P và anh Điểu N đã có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử đưa ra xét xử vụ án là đúng quy định pháp luật.
- Về tố tụng: Đảm bảo đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Chị Thị P ly hôn với anh Điểu N; Về con chung: Giao con chung Thị Mững, sinh ngày 01/12/2008; Thị Khương, sinh ngày 05/3/2012 và Điểu C, sinh ngày 17/4/2015 cho anh Điểu N có trách nhiệm trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Anh Điểu N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Chị Thị P được quyền thăm nom, chăm sóc con sau ly hôn. Đối với con chung Thị M2 đã đủ tuổi trưởng thành nên không đề cập giải quyết. Về tài sản chung: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
. Về tố tụng: Thẩm quyền giải quyết của Tòa án và quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Thị P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con khi ly hôn với anh Điểu N; anh Điểu N có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đắk Song theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS; quan hệ pháp luật yêu cầu giải quyết là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. [2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Thị P và anh Điểu N đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật trên cơ sở tự nguyện, đời sống hôn nhân giữa chị Thị P và anh Điểu N thường xuyên nảy sinh mâu thuẫn và bất hòa, nguyên nhân là do cả hai không cùng quan điểm sống, chị Thị P có nguyện vọng được ly hôn với anh Điểu N; anh Điểu N thừa nhận giữa vợ chồng anh chị có mâu thuẫn vợ chồng, bất đồng quan điểm sống, chị Thị P và anh Điểu N đã không còn chung sống với nhau được 9 năm nay. Tuy nhiên, anh Điểu N muốn đoàn tụ vợ chồng để nuôi dạy con, không đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa chị Thị P và anh Điểu N là trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị Thị P với anh Điểu N không còn sống chung với nhau một thời gian dài, chị Thị P không có nguyện vọng đoàn tụ vợ chồng cần chấp nhận cho chị Thị P ly hôn với anh Điểu N. [3]. Về con chung: Con chung Thị M, sinh ngày 05/4/2005 đã đủ tuổi trưởng thành, không bị mất năng lực hành vi dân sự và có khả năng lao động nên không đề cập giải quyết. Đối với con chung, Thị M1; T và Điểu C hiện nay đang ở với anh Điểu N, anh Điểu N có nguyện vọng nuôi con, chị Thị P đồng ý giao các con chung cho anh Điểu N trực tiếp nuôi, nên giao các con chung cho Điểu N trực tiếp nuôi dưỡng là đúng quy định của pháp luật, đúng với nguyện vọng của các con chung. [4.] Về tài sản chung: Không yêu cầu nên không đề cấp giải quyết. [5]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song là có căn cứ nên chấp nhận. [6]. Về án phí: Chị Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thị P. 1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Thị P ly hôn anh Điểu N. 2. Về con chung: Giao con chung Thị M, sinh ngày 01/12/2008; Thị K, sinh ngày 05/3/2012 và Điểu C, sinh ngày 17/4/2015 cho anh Đ N có trách nhiệm trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đển tuổi trưởng thành. Anh Điểu N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Chị Thị P có quyền thăm nom con sau khi ly hôn. 3. Về tài sản chung: Không yêu cầu. 4. Về án phí: Chị Thị P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện S, tỉnh Đắk Nông theo biên lai số 0001527 ngày 11 tháng 12 năm 2023. 5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc niêm yết bản án lên Tòa án cấp trên yêu cầu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Đắk Song (02 bản); - Chi cục THADS huyện S; - UBND xã Đ; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊNTÒA (Đã ký) Quách Trọng Sơn |