- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Anh Trần Quang K xác định cha cho con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Quang K. Xác định anh Trần Quang K, sinh năm 1990; địa chỉ cư trú: I T, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng là cha đẻ của cháu dự định đặt tên là Trần Ngọc Thanh T, giới tính nữ, sinh ngày 30/01/2024 theo giấy chứng sinh …
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI LĂNG TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2024/HNGĐ-ST Ngày: 10/9/2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Võ Bùi Diệu Lương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Liền.
2. Ông Văn Viết Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Kim Hưng - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Hải Lăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Lăng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 98/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024 về “Xác định cha cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXX-ST ngày 12 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 12/2024/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Trần Quang K; sinh năm 1990; địa chỉ: I T, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; vắng mặt.
2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H; sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Thái Văn C; sinh năm 1985; địa chỉ: Khu phố C, phường A, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/7/2024, bản tự khai, đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nguyên đơn anh Trần Quang K trình bày:
Năm 2012 chị Nguyễn Thị H đăng ký kết hôn với anh Thái Văn C. Từ năm 2018 đến năm 2023, chị H, anh C sống ly thân. Đến tháng 9/2023, chị H và anh C được Tòa án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn. Tháng 4/2023 anh K quen biết, phát sinh quan hệ tình cảm với chị H và có con chung. Đến tháng 01/2024 chị H sinh con chung của anh K và chị H, dự định đặt tên là Trần Ngọc Thanh T. Con của anh K và chị H được mang thai trong thời kỳ hôn nhân của chị H và anh C. Vì vậy anh K yêu cầu Tòa án xác định anh K là cha của Trần Ngọc Thanh T để hoàn tất các thủ tục khai sinh cho con. Vì lý do công việc không đến tham gia phiên toà được nên đề nghị Toà án xét xử vắng mặt anh.
Tại các bản tự khai, bị đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Năm 2023 chị H có quen và phát sinh tình cảm với anh Trần Quang K, giữa anh chị đã có con chung. Ngày 30/01/2024 chị H sinh con chung của anh K và chị H, dự định đặt tên là Trần Ngọc Thanh T. Anh Trần Quang K là cha của con gái Trần Ngọc Thanh T. Vì lý do con còn nhỏ nên chị không thể tham gia phiên tòa, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt chị.
Tại bản tự khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Thái Văn C trình bày: Trong thời gian anh và chị H ly thân, ly hôn chị H có con với ai thì anh C không biết. Anh C xác định anh không phải là cha của Trần Ngọc Thanh T. Anh C xin vắng mặt tại các phiên hòa giải và phiên tòa, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt anh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Lăng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, thư ký được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, cụ thể: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý, quan hệ tranh chấp, tư cách tham gia tố tụng, xác minh, thu thập chứng cứ; thực hiện việc tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, tuân thủ quy định của pháp luật về thời hạn thụ lý vụ án, thời hạn chuẩn bị xét xử và thực hiện việc chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát trước khi tham gia phiên tòa.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71, 72, 73 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Nguyên đơn được Toà án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 227, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là đúng quy định.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 89, 90, 91, 101, 102 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Quang K, xác định anh Trần Quang K là cha đẻ của Trần Ngọc Thanh T, sinh vào lúc 06 giờ 15 phút ngày 30/01/2024 theo giấy chứng sinh số 0091, quyển số 0001 do Bệnh viện Đ cấp ngày 30/01/2024. Về án phí: Anh Trần Quang K được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Sau khi xem xét yêu cầu của nguyên đơn, xác định đây là vụ án “ Tranh chấp về xác định cha cho con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 4 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại huyện H, tỉnh Quảng Trị nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng theo quy định tại khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã có đơn xin xét xử vắng mặt nên theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 227, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Về nội dung vụ án: Nguyên đơn anh Trần Quang K và bị đơn chị Nguyễn Thị H đều xác định, trong khoảng thời gian từ tháng 4/2023 đến tháng 01/2024 anh chị đã quen biết, phát sinh tình cảm, quan hệ nam nữ và đã có con chung. Đến ngày 30/01/2024, chị H sinh con chung của anh K và chị H tại Bệnh viện Đ, dự định đặt tên là Trần Ngọc Thanh T. Chị H mang thai con chung với anh K trong thời kỳ hôn nhân của chị H với chồng cũ là anh Thái Văn C. Tuy nhiên, phía anh C cũng đã khẳng định, anh và chị H đã ly thân 06 năm trước khi ly hôn, cháu Trần Ngọc Thanh T không phải là con của anh.
Mặt khác, theo kết quả xét nghiệm ADN số 240301GL/ADN ngày 19/02/2024 của Viện Công nghệ A và phân tích di truyền - Genlab kết luận: Anh Trần Quang K có quan hệ huyết thống bố - con với cháu dự kiến đặt tên là Trần Ngọc Thanh T, độ tin cậy >99,9999%.
Vì vậy, có đủ căn cứ xác định anh Trần Quang K là cha đẻ của cháu Trần Ngọc Thanh T. Cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Trần Quang K, xác đinh anh K là cha đẻ của cháu Trần Ngọc Thanh T, sinh ngày 30/01/2024 theo giấy chứng sinh số 0091, quyển số 0001 do Bệnh viện Đ cấp ngày 30/01/2024.
Về án phí: Anh Trần Quang K thuộc trường hợp được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1, khoản 2 Điều 227, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 89, Điều 90, Điều 91, Điều 101, Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Quang K. Xác định anh Trần Quang K, sinh năm 1990; địa chỉ cư trú: I T, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng là cha đẻ của cháu dự định đặt tên là Trần Ngọc Thanh T, giới tính nữ, sinh ngày 30/01/2024 theo giấy chứng sinh số 0091, quyển số 0001 do Bệnh viện Đ cấp ngày 30/01/2024.
Về án phí: Anh Trần Quang K được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Trị; - VKSND huyện Hải Lăng; - THADS huyện Hải Lăng; - UBND xã Hải Ba; - Đương sự; - Lưu hồ sơ, tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Bùi Diệu Lương |