- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Ngô Thanh L.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:18/2024/HNGĐ-ST Ngày 23/4/2024 V/v: Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Y Dhiễu Hmok và bà Nguyễn Thị Quỳnh Hải.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Xiêm – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Từ Quốc Quyền - Kiểm sát viên.
Ngày 23/4/2024, tại Phòng xử án, Toà án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 218/2023/TLST-HNGĐ ngày 11/10/2023 về việc “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11/3/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Ngô Thanh L, sinh năm 1983, có mặt;
Địa chỉ: Đường Ch, tổ dân phố A, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.
Bị đơn: Bà Lê Thị Thu H, sinh năm 1984, vắng mặt;
Địa chỉ thường trú: Tổ dân phố T (nay là tổ dân phố B), phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.
Chỗ ở hiện nay: Đường Tr, tổ dân phố C, phường Đ, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Ngô Thanh L trình bày có nội dung:
Ông và bà Lê Thị Thu H đã ly hôn theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số: 02/2021/QĐST-HNGĐ ngày 07/01/2021 của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk. Về con chung Tòa án quyết định giao cháu Ngô Thanh V, sinh ngày 17/6/2006 cho ông trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục đến khi đủ tuổi thành niên; giao cháu Ngô Thanh L1, sinh ngày 17/9/2009 cho bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục đến khi đủ tuổi thành niên. Tuy nhiên sau khi ly hôn cháu L1 vẫn ở với ông, do ông trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, bà H không trông nom, chăm sóc cháu L1. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu L1, ông khởi kiện yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết giao con chung là cháu Ngô Thanh L1 cho ông trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục đến khi đủ tuổi thành niên
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con chung.
Bị đơn bà Lê Thị Thu H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến.
Tại phiên tòa kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Ngô Thanh L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về khởi kiện và thụ lý vụ án: Ngày 02/8/2023, nguyên đơn nộp đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo, lựa chọn hòa giải, đối thoại, lựa chọn hòa giải viên tại Tòa án. Ngày 04/8/2023 Tòa án thông báo chuyển vụ việc sang hòa giải và quyết định chỉ định hòa giải viên; ngày 26/9/2023 Hòa giải viên lập biên bản về việc không hòa giải đối thoại được, chuyển vụ kiện sang Tòa án thụ lý; ngày 04/10/2023 Tòa án thông báo nộp tiền tạm ứng án phí, ngày 09/10/2023 nguyên đơn đã nộp tạm ứng án phí và ngày 11/10/2023 nguyên đơn nộp biên lai nộp tạm ứng án phí và Tòa án thụ lý vụ án là đúng quy định tại Điều 191 và Điều 195 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo quy định tại khoản 3 Điều 28 và tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ là đúng quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về trình tự thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Lê Thị Thu H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là phù hợp khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về yêu cầu của đương sự:
Về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn: Xét thấy tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số: 02/2021/QĐST-HNGĐ ngày 07/01/2021 của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk thì con chung là cháu Ngô Thanh L1, sinh ngày 17/9/2009 giao cho bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục đến khi đủ tuổi thành niên. Tuy nhiên theo trình bày của nguyên đơn và kết quả xác minh tại địa phương thì sau khi ly hôn cháu Ngô Thanh L1 vẫn sống chung với ông L, do ông L trực tiếp trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng, mọi chi phí sinh hoạt, học tập của cháu L1 đều do ông L chi trả và cháu L1 có nguyện vọng ở với ông L. Hội đồng xét xử thấy, để đảm đảm việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, đảm bảo về mọi mặt cho cháu L1 và phù hợp với nguyện vọng của cháu nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L, giao cháu L1 cho ông L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi đủ tuổi thành niên là phù hợp với Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông L không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Xét quan điểm của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận do vậy nguyên đơn ông Ngô Thanh L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho ông Ngô Thanh L số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0018736 ngày 09/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã B, tỉnh Đắk Lắk. Bị đơn bà Lê Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm là phù hợp với Điều 144, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 9; điểm a khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 144; Điều 147; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào Điều 9; điểm a khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Ngô Thanh L.
1. Giao con chung là cháu Ngô Thanh L1, sinh ngày 17/9/2009 cho ông Ngô Thanh L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu L1 đủ tuổi thành niên.
Bà Lê Thị Thu H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
2. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông Ngô Thanh L không yêu cầu bà Lê Thị Thu H cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
3. Về án phí: Ông Ngô Thanh L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho ông Ngô Thanh L số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0018736 ngày 09/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.
Bị đơn bà Lê Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk; - VKSND thị xã Buôn Hồ; - CCTHADS thị xã B; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; VP Tòa án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Anh |