vanban.org

Bản án 18/2024/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Minh P, về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn (Thay đổi người trực tiếp nuôi con là cháu Trần Hoàng K, sinh ngày 24/11/2021).

Về án phí: Buộc anh Trần Minh P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0013047 ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã A, anh P đã nộp đủ án phí dân sự… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "PHU-NGAN"
  • Tòa quyết gì? Xử: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Minh P, về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn (Thay đổi người trực tiếp nuôi con là cháu Trần Hoàng K, sinh ngày 24/11/2021).
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ A - TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 09/9/2024
“Tranh chấp về thay đổi người trực
tiếp nuôi con sau khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A - TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Trung Toàn

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hằng; bà Trần Thị Kia.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã A tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chung, Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 55/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 204 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Trần Minh P, sinh năm 1997; địa chỉ: Tổ E, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai; có mặt.

- Bị đơn: Chị Lê Thúc N, sinh năm 1998; địa chỉ: Số A N, Tổ E, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện nguyên đơn anh Trần Minh P trình bày: Tôi và chị Lê Thúc N đã thuận tình ly hôn với nhau theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các bên tham gia hoà giải tại Toà án số 36/2022/QĐCNTTLH ngày 27/9/2022 của TAND thị xã A, tỉnh Gia Lai. Trong quyết định ly hôn nói trên về phần con chung tôi và chị N có 01 con chung tên Trần Hoàng K, sinh ngày 24/11/2021 và được giao cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu K trưởng thành và tự lực được. Tuy nhiên, sau khi ly hôn chị N có người tình mới, không trực tiếp nuôi con mà giao con lại cho tôi nuôi từ lúc 09 tháng tuổi cho đến nay. Tôi thấy đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng con cho sự phát triển về tinh thần lẫn thể chất, do vậy tôi đề nghị Tòa án giải quyết, thay đổi người trực tiếp nuôi con là cháu Trần Hoàng K, sinh ngày 24/11/2021 từ chị N sang cho tôi trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Về cấp dưỡng nuôi con, tôi đủ điều kiện nuôi con nên tôi không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con.

* Bị đơn chị Lê Thúc N trình bày: Tôi và anh Trần Minh P đã ly hôn với nhau theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các bên tham gia hoà giải tại Toà án số 36/2022/QĐCNTTLH ngày 27/9/2022 của TAND thị xã A, tỉnh Gia Lai. Trong quyết định ly hôn đã thỏa thuận giao cháu Trần Hoàng K, sinh ngày 24/11/2021 cho cho tôi nuôi dưỡng cho đến khi cháu K trưởng thành và tự lực được. Sau khi ly hôn với anh P tôi đã đưa con vào TP . đi làm kiếm thu nhập để nuôi con thì anh P đã đề nghị tôi đưa con về cho anh P chăm sóc một thời gian nên tôi đã đưa cháu K về cho anh P. Sau đó tôi về lại thị xã A đến thăm con và đưa con về thì anh P gây khó dễ, không cho gặp con nên tôi đã yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự can thiệp để anh P giao con lại cho tôi nuôi. Một thời gian sau, anh P lợi dụng việc thăm nom con để đưa con đi chơi không đúng giờ giấc gây nên không tốt về mặt sức khoẻ của con đưa cháu K về nhà anh P, không giao con lại cho tôi. Tôi có đến thăm con thì anh P ngăn cản không cho tôi gặp con và không cho tôi đưa con về nên cháu K vẫn còn ở với anh P cho đến nay. Từ khi tôi được giao quyền nuôi con thì tôi vẫn tạo điều kiện cho anh P đón con về thăm ông bà nội của cháu bình thường không ngăn cản gì cả nhưng khi tôi đến đưa cháu K về thì anh P ngăn cản không cho tôi đưa con về và khởi kiện yêu cầu thay đổi người nuôi con. Hiện tại tôi đã ổn định về mọi mặt đã có việc làm, có thu nhập ổn định nên đủ điều kiện để nuôi con. Hơn nữa, cháu K còn nhỏ tuổi ở với mẹ sẽ tiện chăm sóc hơn nên tôi không đồng ý giao cháu K cho anh P nuôi. Tôi không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh P.

* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa có ý kiến: Về thủ tục tố tụng Tòa án nhân dân thị xã A đã thụ lý và giải quyết vụ án đúng thẩm quyền; Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã A đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Minh P, về yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn đối với cháu Trần Hoàng K, sinh ngày 24/11/2021. Về án phí: Vì yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận nên buộc nguyên đơn phải chịu số tiền 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Anh Trần Minh P và chị Lê Thúc N đã ly hôn, sau khi ly hôn chị N cư trú tại số nhà A N, Tổ E, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai nên anh P nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân thị xã A về yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn đối với bị đơn là chị N. Theo quy định tại khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì đây là vụ án nói trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai.

Về yêu cầu khởi kiện: Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các bên tham gia hoà giải tại Toà án số 36/2022/QĐCNTTLH ngày 27/9/2022 của TAND thị xã A, tỉnh Gia Lai đã giao con chung là cháu Trần Hoàng K, sinh ngày 24/11/2021 cho mẹ là chị N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành và tự lực được. Theo lời trình bày của anh P thì chị N có người tình mới, không trực tiếp nuôi mà giao con lại cho anh P nuôi từ lúc 09 tháng tuổi cho đến nay và không đến thăm con. Vì vây, anh P yêu cầu Tòa án xét xử giao cháu K lại cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng. Nếu được nuôi con anh P không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo các đương sự đến để tham gia hòa giải nhưng anh P, chị N không có mặt nên Toà án không thể tiến hành hoà giải được và đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên toà, anh P giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về thay đổi người trực tiếp nuôi con như trong đơn khởi kiện. Còn chị N không đồng ý giao con lại cho anh P nuôi và trình bày, vì cháu K còn nhỏ, chưa tự chăm sóc được nên xin được nuôi con để tiện chăm sóc con cho tốt hơn. Chị N không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Minh P về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con là cháu Trần Hoàng K, sinh ngày 24/11/2021 từ chị Lê Thúc N sang cho anh Trần Minh P trực tiếp nuôi dưỡng nhưng anh P không có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh chị N là “Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình. Các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa thể hiện, đến hiện tại thì chị N đủ điều kiện để nuôi con, hơn nữa, cháu K còn nhỏ chưa đủ 36 tháng tuổi rất cần sự chăm sóc, nuôi dưỡng của người mẹ là phù hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con là cháu Trần Hoàng K, sinh ngày 24/11/2021 từ chị Lê Thúc N sang anh Trần Minh P trực tiếp nuôi dưỡng trong Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các bên tham gia hoà giải tại Toà án số 36/2022/QĐCNTTLH ngày 27/9/2022 của TAND thị xã A, tỉnh Gia Lai, là không có cơ sở nên không được chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự đều không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu không được Tòa án chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 3 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 235, Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình

- Áp dụng điểm khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Minh P, về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn (Thay đổi người trực tiếp nuôi con là cháu Trần Hoàng K, sinh ngày 24/11/2021).

Về án phí: Buộc anh Trần Minh P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0013047 ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã A, anh P đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Chị Lê Thúc N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Về thời hạn kháng cáo: Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 09/9/2024) các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm. Thời hạn trên đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa được tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

Cỡ chữ