vanban.org

Bản án 18/2024/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Vũ Đình C về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Về án phí: Anh Vũ Đình C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận anh Vũ Đình C đã nộp số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí kí hiệu BLTU/23 số 0000880 ngày 12/01/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu nay chuyển thành… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Đình Chiến"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Vũ Đình C về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN UYÊN
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 28/6/2024
V/v tranh chấp về thay đổi
người trực tiếp nuôi con sau khi
ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Nam Giang; Ông Vương Huy Vượng

- Thư ký phiên toà: Ông Giang Tiến Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu- Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 31/2024/TLST - HNGĐ, ngày 12 tháng 01 năm 2024, về việc: “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/QĐXXST - HNGĐ, ngày 08 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2024/QĐST - HNGĐ ngày 06/6/2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Vũ Đình C, sinh năm 1989. (có mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố 15, thị trấn Tân Uyên, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.

2. Bị đơn: Chị Phùng Thị H, sinh năm 1990. (có mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố 5, thị trấn Tân Uyên, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Vũ Đình C trình bày:

Anh Vũ Đình C và chị Phùng Thị H có kết hôn với nhau theo quy định của pháp luật, sau đó anh chị chung sống không hạnh phúc nên đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số: 15/2014/QĐST-HNGĐ ngày 19/3/2014 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên tỉnh Lai Châu. Trong thời kỳ hôn nhân anh chị có với nhau 01 con chung là cháu Vũ Thanh Đan sinh ngày 15/11/2012, theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự chị H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Vũ Thanh Đan đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi), anh C có nghĩa vụ cấp dưỡng 1.000.000 đồng/tháng.

Sau khi anh chị ly hôn cháu Vũ Thanh Đan ở cùng với chị H tại Tổ dân phố 5, thị trấn Tân Uyên, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu từ đó cho đến nay. Bản thân anh có trách nhiệm cấp dưỡng đầy đủ theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên việc gặp con rất khó khăn, gọi điện cho chị H để gặp con thì chị H toàn trốn tránh và gọi nhiều lần mới được gặp. Thậm chí cũng có lúc chị H không cho anh gặp con, khi anh gặp được con và muốn con ở lại với bố một hai ngày thì chị H không đồng ý. Chị H tước đi quyền thăm nom con chung của anh, cản trở việc gặp con theo quy định của pháp luật. Anh cho rằng con gái đã lớn biết chăm sóc cho bản thân và có nguyện vọng muốn được ở với bố và đã viết đơn xin được ở với bố. Nếu con ở với anh thì chị H vẫn được gặp con theo quy định của pháp luật mà không ai cản trở, anh tôn trọng con và tôn trọng chị H nên việc gặp con anh không gây khó khăn cho chị H, vì hiện tại nhà chị H và nhà anh về khoảng cách địa lý rất gần, nên việc con đi lại giữa bố và mẹ đều thuận lợi.

Về điều kiện vật chất anh có thu nhập ổn định từ việc bán hàng cho doanh nghiệp dao động từ 9.300.000 đồng/tháng đến 10.800.000 đồng/tháng trở lên, nên anh đủ điều kiện để chăm sóc nuôi dưỡng con chung đến khi trưởng thành. Anh cũng có nhà riêng, cũng đã kết hôn và có 02 con riêng nhưng không ảnh hưởng đến việc nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cháu Đan trưởng thành.

Việc giáo dục con chơi cùng bạn bè sẽ hợp lý, không ép buộc trái ý muốn của con, anh sẽ ngồi tâm sự với con trong việc con chơi với bạn và phân tích cho con hiểu và theo dõi sát sao con, định hướng tương lai cho con, chứ không la mắng quát nạt con như chị H đang giáo dục con chung. Anh đề nghị Tòa án giải quyết thay đổi cho anh được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cháu Vũ Thanh Đan đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung.

* Tại biên bản lấy lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị đơn chị Phùng Thị H trình bày:

Chị H xác nhận đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Vũ Thanh Đan sinh ngày 15/11/2012 cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi) theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên tỉnh Lai Châu. Chị có công việc ổn định và đang công tác tại Trường trung học cơ sở xã Phúc KH huyện Tân Uyên tỉnh Lai Châu, mức thu nhập từ tiền lương là 6.537.100 đồng/tháng, có đủ điều kiện đảm bảo nuôi con trưởng thành. Về việc giáo dục và về sự phát triển tâm sinh lý, chị vẫn tạo điều kiện cho cháu thoải mái được học hành và giao lưu cùng bạn bè cũng như không cấm đoán cháu được gặp bố, tuy nhiênthời gian gần đây do bố cháu không cấp dưỡng đều cho cháu nên chị cũng không cho cháu gặp bố. Quan điểm của chị không đồng ý thay đổi người trực tiếp nuôi con. Do vậy chị H không đồng ý yêu cầu khởi kiện của anh Vũ Đình C.

Về nguyện vọng của cháu Vũ Thanh Đan: Tại bản tự khai, biên bản lấy ý kiến và cháu có đơn mong muốn được ở với bố, mặc dù cháu vẫn yêu thương cả bố và mẹ, nhưng cháu đã lớn và nhận thấy bố yêu thương nhiều hơn, tuy ở với mẹ vẫn quan tâm nhưng mẹ hay la mắng mỗi khi cháu đi chơi về muộn khiến cháu không được vui vẻ. Vì vậy nguyện vọng cháu muốn được ở với bố để yên tâm học hành.

Xác minh tại Ủy ban nhân dân thị trấn: Xác nhận chị H và con gái là cháu Vũ Thanh Đan đang sinh sống tại địa phương chấp hành nghiêm chỉnh chính sách pháp luật của Nhà nước, mối quan hệ giữa mẹ và con là bình thường, việc cháu Đan muốn gặp bố thì phải xin phép mẹ và được mẹ đồng ý.

Xác minh anh C sống tại địa phương chấp hành nghiêm chỉnh chính sách pháp luật của Nhà nước, xác nhận anh C chưa bị cơ quan nhà nước nào xử phạt về hành vi bạo lực gia đình. Xác nhận về hoàn cảnh điều kiện kinh tế anh C có điều kiện, có nhà riêng và đã kết hôn cũng có 02 con riêng. Ý kiến của trưởng khu nơi anh C sinh sống: Tôn trọng nguyện vọng của cháu theo quy định của pháp luật.

Ý kiến Nhà trường: Hiện nay cháu Vũ Thanh Đan đang học lớp 6 A1 trường trung học cơ sở thị trấn Tân Uyên, lực học là học sinh xuất sắc, đạt giải khuyến khích môn văn cấp huyện, ngoan lễ phép, chị H quan tâm sát sao việc học tập của cháu Đan.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Mong muốn có nguyện vọng được nuôi cháu Đan đến khi trưởng thành và không yêu cầu chị H cấp dưỡng. Bị đơn vẫn giữ nguyên quan điểm không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử (HĐXX), thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 - Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Trên cơ sở lời trình bày của các đương sự và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị hội đồng xét xử áp dụng các quy định tại khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39 các Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81, 82, 83, 84 - Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1, 3 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của anh Vũ Đình C. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Anh Vũ Đình C có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Xác định bị đơn chị Phùng Thị H có Địa chỉ: Tổ dân phố 5, thị trấn Tân Uyên, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu và đây là quan hệ pháp luật hôn nhân gia đình về “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”. Căn cứ vào khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.

Về nội dung vụ án:

[1] Về yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, Hội đồng xét xử (HĐXX) xét thấy như sau:

Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số: 15/2014/QĐST-HNGĐ ngày 19/3/2014 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu ghi nhận chị H được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Vũ Thanh Đan sinh ngày 15/11/2012 cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi và anh C có nghĩa vụ cấp dưỡng 1.000.000 đồng/ tháng.

Qua xác minh tại địa phương và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được xét thấy:

Hiện cháu Đan đang sinh sống cùng mẹ trên địa bàn thị trấn Tân Uyên, về khoảng cách địa lý giữa nhà chị H và nhà anh C là rất gần, nên việc qua lại giữa cháu Đan và anh C chị H đều bình thường, quá trình giải quyết vụ án cháu Đan có đơn và có nguyện vọng mong muốn được ở cùng với bố. HĐXX xét thấy: Từ sau khi ly hôn chị H là người nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục cháu Đan trưởng thành, khi ở với chị H việc học của cháu rất tốt. Chị H cũng chưa bị cơ quan có thẩm quyền nào xử phạt về hành vi bạo lực gia đình, về điều kiện vật chất chị H có mức lương thu nhập ổn định là 6.537.100 đồng/tháng. Về sức khỏe chị H ổn định không bị mắc bệnh hiểm nghèo và các bệnh nặng khác; về thời gian, chị làm công việc y tế học đường giờ hành chính, nên chị có đủ điều kiện về mặt thời gian để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con đến khi trưởng thành.

Về tâm sinh lý của cháu, HĐXX thấy rằng: Cháu đã lớn nên có sự thay đổi về tâm sinh lý là chuyện không tránh khỏi. Bản thân cháu Đan đang ở cùng mẹ và ở cạnh nhà bố nên việc đi lại thăm nom con chung của anh C không khó khăn. Mặc dù chị H có khắt khe trong việc thăm nom con đối với anh C, nhưng anh C vẫn được gặp con, vì vậy giữa anh C và chị H nên giữ một mối quan hệ tốt để cùng nhau chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục cháu Đan trưởng thành đủ 18 tuổi. Hiện anh C vẫn đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng hàng tháng đều đảm bảo đầy đủ để nuôi dưỡng cháu Đan. Vì vậy cháu Đan có đầy đủ về mặt vật chất cũng như về tinh thần và có được cả bố và mẹ chăm sóc.

HĐXX xét thấy để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho cháu, và để cháu Đan phát triển đẩy đủ về tâm sinh lý, cũng như có cuộc sống đầy đủ về mặt vật chất và sự yêu thương, tôn trọng, quan tâm chăm sóc là điều kiện để cháu Đan phát triển toàn diện về trí tuệ, thể chất và đạo đức. Bên cạnh đó cháu Đan là con gái, vì vậy việc giao cho mẹ chăm sóc nuôi dưỡng cháu là phù hợp. Nên giao cháu Đan cho chị Phùng Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Vì vậy căn cứ Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình. Xét thấy chị H vẫn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định, nên không có căn cứ để thay đổingười trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Vì vậy, yêu cầu của anh C về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn không được chấp nhận.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Quan điểm giải quyết vụ án của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên HĐXX chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39; Điều 147 - Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Các Điều 81, Điều 82, 83, 84 - Luật Hôn nhân và gia đình;

- Khoản 1, 3 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Vũ Đình C về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

2. Về án phí: Anh Vũ Đình C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận anh Vũ Đình C đã nộp số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí kí hiệu BLTU/23 số 0000880 ngày 12/01/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu nay chuyển thành án phí dân sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN

THẨM PHÁN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Phương

Cỡ chữ