- Tranh chấp gì? án hành chính — "Bà H khởi kiện, yêu cầu hủy Thông báo số 1082/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 17/7/2023 của Chi nhánh V"
- Tòa quyết gì? hành chính; Khoản 1, điểm a khoản 4 Điều 95, khoản 1 Điều 168, Điều 169, 188 Luật Đất đai;
- Căn cứ chính? Điều 95 Luật Đất đai; Điều 168 Luật Đất đai; Điều 169 Luật Đất đai
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2024/HC-ST Ngày: 31-01-2024 V/v khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quản
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Tương, bà Nguyễn Thị Lộc
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương là Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa:
Bà Võ Thị Phương Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét
xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 201/2023/TLST-HCST ngày 28/11/2023, về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST-HC ngày 15 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Tuyết H, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Văn L, sinh năm 1989. Địa chỉ:
Thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Bình Thuận.
- Người bị kiện: Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Phan Thành L1, chức vụ: Phó
Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai Phan Thiết
Người đại diện hợp pháp: Ông Phan Thành L1, chức vụ: Phó Giám đốc.
+ Ông Võ Phi C, sinh năm 1983 và bà Trần Thị Mỹ D, sinh năm 1994. Cùng
địa chỉ: Khu phố A, phường L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền của ông C và bà D: Ông Bùi Văn L.
Tại phiên tòa có mặt: ông Bùi Văn L; các đương sự còn lại vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện và người đại
diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 30/9/2019, bà Nguyễn Thị Tuyết H ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Võ Phi C và bà Trần Thị Mỹ D, hợp đồng công chứng tại Văn phòng C1, thửa đất số 1184, tờ bản đồ 09, diện tích 156 m2 đất ở nông thôn, theo giấy chứng nhận số CQ 931711, cấp ngày 28/03/2019. Cùng ngày, bà nộp hồ sơ đăng ký tại Chi nhánh Văn phòng Đ (gọi tắt là chi nhánh V). Đến ngày 17/7/2023, Chi nhánh văn phòng trả lời bằng văn bản số 1082/TB-CNVPĐKĐD về việc hồ sơ đăng ký biến động chuyển nhượng của bà có nguồn gốc chuyển mục đích sử dụng đất nhưng không phù hợp bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, khi nào có ý kiến chỉ đạo mới thực hiện hoàn việc đăng ký biến động.
Việc kéo dài không giải quyết hồ sơ đăng ký của Chi nhánh văn phòng gây bức xúc và gây thiệt hại lớn về kinh tế cho gia đình bà. Dù đã cố gắng nhiều lần liên hệ với cơ quan chức năng vẫn chưa được giải quyết ổn thỏa. Trong khi đó bản thân bà đều tuân thủ và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính của mình đối với thửa đất nêu trên,
Bà H khởi kiện, yêu cầu hủy Thông báo số 1082/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 17/7/2023 của Chi nhánh V, buộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh V thực hiện nhiệm vụ, công vụ về việc giải quyết hồ sơ cập nhật biến động chuyển quyền sử dụng đất cho bà theo đúng quy định pháp luật.
Người bị kiện Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B có ý kiến tại văn bản số
3260/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 20/12/2023:
Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Tuyết H, Chi nhánh Văn
phòng Đ đã cung cấp ý kiến, toàn bộ hồ sơ, tài liệu cho Tòa án, Văn phòng Đăng ký đất đai không bổ sung tài liệu, chứng cứ nào khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chi nhánh Văn phòng Đ có ý kiến tại văn bản 12497/CNVPĐKĐĐPT-
TTLT ngày 19/12/2023:
Qua kiểm tra rà soát hồ sơ thì thửa đất số 1184, tờ bản đồ số 9 theo Giấy
chứng nhận số CQ 931711 có nguồn gốc do ông Phạm Văn N và bà Ngô Thị N1 chuyển mục đích sử dụng từ đất trồng cây lâu năm thành đất ở tại nông thôn theo các Quyết định số 4792/QĐ-UBND ngày 14/11/2014, Quyết định số 4768/QĐ-UBND ngày 27/6/2018 và Quyết định số 5440/QĐ-UBND ngày 02/8/2018 của UBND thành phố P đối với thửa đất số 461, tờ bản đồ số 9 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BO 606814 do UBND thành phố P cấp ngày 09/10/2013 nhưng không phù hợp quy hoạch sử dụng đất (quy hoạch là đất nông nghiệp) theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B.
Do đó, Chi nhánh Văn phòng thực hiện theo nội dung chỉ đạo tại Thông báo
số 387/TB-UBND ngày 02/7/2020 của UBND thành phố P, Chi nhánh Văn phòng đã có công văn số 4046/CNVPĐKĐĐPT ngày 20/7/2020 về việc xin ý kiến Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh liên quan đến đất chuyển mục đích trước đây chưa đảm bảo theo quy định. Đến ngày 03/9/2020, Chi nhánh Văn phòng nhận được văn bản phúc đáp của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh số 1981/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 31/8/2020 có ý kiến như sau : “Liên quan đến nội dung vướng mắc của Chi nhánh văn phòng Đ, UBND thành phố P đã có báo cáo 275/BC-UBND ngày 04/8/2020 báo cáo UBND tỉnh về tình hình thực hiện và khắc phục các sai phạm trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, trật tự xây dựng thức Kết luận Thanh tra số 1696KL-UBND ngày 16/5/2019 của Chủ tịch UBND tỉnh B. Sau khi UBND tỉnh có ý kiến chỉ đạo liên quan đến các nội dung vướng mắc theo đề xuất của UBND thành phố P thì thực hiện theo chỉ đạo của UBND tỉnh".
Đồng thời, ngày 22/3/2023, Chi nhánh Văn phòng có công văn số
2120/CNVPĐKĐĐPT gửi đến Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B và UBND thành phố P về việc báo cáo xin ý kiến chỉ đạo liên quan đến chuyển mục đích sai quy hoạch sử dụng đất theo Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B.
Như vậy, căn cứ Công văn số 1981/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 31/8/2020 của
Văn phòng Đ thì hiện nay vẫn chưa có ý kiến chỉ đạo giải quyết hồ sơ của cấp có thẩm quyền liên quan đến vướng mắc các trường hợp hồ sơ chuyển quyền nhưng thửa đất đã chuyển mục đích chưa đảm bảo theo quy định. Do đó, ngày 17/7/2023, Chi nhánh Văn phòng ban hành Thông báo số 1082/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị Tuyết H. Đồng thời, Chi nhánh Văn phòng ban hành Công văn số 6220/CNVPĐKĐĐPT ngày 17/7/2023 gửi Phòng tài nguyên và Môi trường thành phố P để kiểm tra và có ý kiến đối với việc chuyển mục đích sử dụng đất nêu trên. Sau khi các cấp có thẩm quyền có ý kiến chỉ đạo liên quan đến các nội dung vướng mắc của Chi nhánh V thì Chi nhánh Văn phòng sẽ thông báo lại cho bà Nguyễn Thị Tuyết H được biết và phối hợp thực hiện giải quyết hồ sơ theo quy định.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên có ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân
dân và Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193 Luật
Tố tụng hành chính, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Tuyết H, hủy Thông báo số 1082/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 17/7/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố P. Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về việc vắng mặt người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị
Tuyết H, ông Võ Phi C và bà Nguyễn Thị Mỹ D1 vắng mặt nhưng có người đại diện theo ủy quyền; Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng Đ vắng mặt nhưng có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng này theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 158 Luật Tố tụng hành chính.
Về quyền khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Tuyết H nhận chuyển nhượng thửa
đất số 1184, tờ bản đồ số 9, diện tích 156,0 m² đất ở tại nông thôn, địa chỉ thửa đất tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận số CQ 931711 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 23/8/2019, theo Hợp đồng chuyển nhượng số công chứng 16815, quyền số 17TP/CC-SCC/HĐGD ngày 30/9/2019 tại Văn phòng C1.
Ngày 30/9/2019, bà Nguyễn Thị Tuyết H nộp hồ sơ cập nhật chỉnh lý nhận
chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố P. Ngày 17/7/2023, Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố P ban hành Thông báo số 1082/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị Tuyết H. Việc trả hồ sơ, từ chối đăng ký biến động sang tên bà Nguyễn Thị Tuyết H đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà H nên bà H có quyền khởi kiện đối với Văn bản số 1082/TB - CNVPĐKĐĐPT ngày 17/7/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ.
Về thời hiệu khởi kiện: Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Thông báo số
1082/TB – CNVPĐKĐĐPT ngày 17/7/2023. Đến ngày 22/9/2023, bà Nguyễn Thị Tuyết H nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận là còn thời hiệu giải quyết theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.
Về nội dung quyết định hành chính bị khiếu kiện, Hội đồng xét xử nhận
thấy:
[4.1] Khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai quy định người sử dụng đất được thực
hiện quyền chuyển nhượng khi có các điều kiện sau đây:
a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và
trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;
b) Đất không có tranh chấp;
c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;
d) Trong thời hạn sử dụng đất.
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị
Tuyết H và ông Võ Phi C, bà Trần Thị Mỹ D phù hợp với quy định của pháp luật, thửa đất nhận chuyển nhượng có đủ tất cả các điều kiện nêu trên và thuộc trường hợp bắt buộc phải đăng ký biến động đất đai theo quy định tại khoản 1 và điểm a khoản 4 Điều 95 Luật Đất đai. Việc đăng ký biến động sang tên người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất chỉ thay đổi tên người sử dụng thửa đất, không làm thay đổi các thông tin khác đối với thửa đất.
Chi nhánh Văn phòng Đ cho rằng Quyết định cho phép chuyển mục
đích sử dụng đất của UBND thành phố P không phù hợp với quy định của pháp luật nên không giải quyết hồ sơ đăng ký biến động của bà Nguyễn Thị Tuyết H. Hội đồng xét xử xét thấy: Đến nay, Quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của UBND thành phố P chưa bị hủy bỏ, các thông tin về diện tích và mục đích sử dụng đất thể hiện trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoàn toàn phù hợp với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc trả lại hồ sơ đăng ký biến động của Chi nhánh Văn phòng Đ tại Thông báo số 1082/TB – CNVPĐKĐĐPT ngày 17/7/2023 là không có căn cứ, xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của người khởi kiện nên người khởi yêu cầu hủy bỏ thông báo nêu trên là có cơ sở. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện như ý kiến của đại diện Viện kiểm sát.
Về án phí: Do yêu cầu của người khởi kiện được chấp nhận nên người bị
kiện phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; bà Nguyễn Thị Tuyết H được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng
hành chính; Khoản 1, điểm a khoản 4 Điều 95, khoản 1 Điều 168, Điều 169, 188 Luật Đất đai;
- Khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Tuyết H.
- Hủy Thông báo số 1082/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 17/7/2023 của Chi
nhánh Văn phòng Đ.
- Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ phải thực
hiện nhiệm vụ, công vụ trong việc giải quyết hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị Tuyết H theo quy định của pháp luật.
2. Về án phí hành chính sơ thẩm:
- Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng
án phí hành chính sơ thẩm.
- Bà Nguyễn Thị Tuyết H không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm. Trả lại
cho bà Nguyễn Thị Tuyết H 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000039 ngày 27/11/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng
cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (31/01/2024); đương sự vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Luật tố tụng hành chính.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh B.Thuận; - Cục THADS tỉnh B.Thuận; - Các đương sự; - Lưu: hồ sơ, Tổ HCTP; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA N V Q |