- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng góp hụi"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 18 Nghị Định 19/NĐ- CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ về họ, hụi, biêu, phường.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2024/DS-ST Ngày: 17 - 5- 2024 “V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Vinh Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Ngư
Ông Lâm Ngọc Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Trâm- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Mộng Kiều – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 185/2023/TLST-DS, ngày 20 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Việt T, sinh năm 1982 (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H sinh năm 1971 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liê quan:
1. Ông Nguyễn Văn C, sinh 1993 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
2. Ông Nguyễn Văn T1, sinh 1995 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 27 tháng 10 năm 2023; biên bản lấy lời khai ngày 26/3/2024; cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Việt T trình bày:
Bà T có tham gia các dây hụi tháng, hụi mùa do bà Nguyễn Thị H làm chủ hụi cụ thể như sau:
Dây hụi tháng: Mở ngày 20/7/2020, có 25 phần, mỗi phần 1.000.000 đồng, bà T tham gia 04 phần, mỗi phần hốt cuối được 24.000.000 đồng x 04 phần = 96.000.000 đồng, trừ tiền đầu thảo 1.600.000 đồng, bà H giao 31.550.000 đồng, còn nợ lại 62.850.000 đồng.
Dây hụi tháng: Mở ngày 10/01/2021, có 24 phần, mỗi phần 1.000.000 đồng, bà T tham gia 09 phần (tham gia 08 phần, mua của bà H 01 phần), đóng hụi sống cho bà H mỗi phần được 18 lần 162.000.000 đồng (18 lần x 09 phần = 162.000.000đ).
Dây hụi mùa: Mở ngày 30/01/2018, có 20 phần, mỗi phần 5.000.000 đồng, bà T tham gia 04 phần, hốt hết 01 phần, còn lại 03 phần hụi sống đóng 14 lần 210.000.000 đồng (5.000.000đ x 14 lần x 03 phần = 210.000.000 đồng), trừ 01 phần hụi chết 30.000.000 đồng, bà H còn nợ 180.000.000 đồng.
Dây hụi mùa: Mở ngày 15/01/2020, có 19 phần, mỗi phần 5.000.000 đồng, bà T tham gia 01 phần, đóng hụi sống được 5 lần (5.000.000 đ x 5 lần = 25.000.000 đồng)
Tổng cộng các dây hụi, bà H nợ tiền hụi 429.850.000 đồng (Bốn trăm hai mươi chín triệu tám trăm năm mươi ngàn đồng), đến ngày 28/10/2023 bà H viết giấy hứa sang đất sẽ trả số tiền trên, nhưng đến nay vẫn không trả.
Nay bà T yêu cầu Tòa án giải quyết bà Nguyễn Thị H trả số tiền hụi 429.850.000 đồng (Bốn trăm hai mươi chín triệu tám trăm năm mươi ngàn đồng). Tại phiên Tòa sơ thẩm bà T thay đổi yêu cầu chỉ buộc bà Nguyễn Thị H trả số tiền hụi 404.800.000 đồng.
Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên cho rằng HĐXX đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án, đảm bảo về thủ tục bắt đầu phiên tòa, tranh tụng tại phiên tòa theo quy định BLTTDS năm 2015.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Việt T buộc bị đơn bà Nguyễn Thị H phải có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị Việt T số tiền hụi: 404.800.000 đồng (Bốn trăm lẻ bốn triệu, tám trăm ngàn đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn C, ông Nguyễn Văn T1, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa, nhưng bà H,ông C, ông T1 đều vắng mặt; nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các ông, bà nêu trên.
Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ vào đơn khởi kiện ngày 27/10/2023 của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Việt T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị H trả tiền hụi: 429.850.000 đồng, nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp “ Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.
Về nội dung: Bà Nguyễn Thị Việt T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị H trả tiền hụi: 429.850.000 đồng.
Tại phiên Tòa sơ thẩm bà T thay đổi yêu cầu chỉ buộc bà Nguyễn Thị H trả số tiền hụi 404.800.000 đồng. Xét thấy, tại phiên tòa hôm nay, bà T thay đổi yêu cầu buộc bà Nguyễn Thị H trả số tiền hụi 404.800.000 đồng là hoàn toàn tự nguyện, không vượt quá phạm vi khởi ban đầu, nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; chấp nhận việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của bà T.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Việt T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bà T yêu cầu bà Nguyễn Thị H trả số tiền hụi: 404.800.000 đồng (Bốn trăm lẻ bốn triệu, tám trăm ngàn đồng) là có cơ sơ. Vì bà T2 minh được có tham gia các dây hụi tháng và hụi mùa nêu trên, do bà H làm chủ hụi và đến ngày 30/10/2023 bà H viết giấy hứa sang đất được sẽ trả tiền hụi cho bà T. Tại biên bản lấy lời khai ngày 26/3/2024, bà T xác định kiện bà H và chỉ yêu cầu bà H trả số tiền hụi 404.800.000 đồng, chứ không có yêu cầu ông C, ông T1 (con bà H) cùng trả số tiền hụi nêu trên, nên Hội đồng xét xử buộc bà H có nghĩa vụ trả cho bà T số tiền hụi 404.800.000 đồng là có cơ sở.
Từ những nhận định, phân tích trên, Hội đồng xét xử, xét thấy yêu cầu của bà Nguyễn Thị Việt T là có cơ sở chấp nhận. Do đó áp dụng Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015, buộc bà Nguyễn Thị H phải có nghĩa vụ trả bà Nguyễn Thị Việt T số tiền hụi: 404.800.000 đồng (Bốn trăm lẻ bốn triệu, tám trăm ngàn đồng) là có căn cứ.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 20.192.000 đồng của số tiền 404.800.000đồng (từ 400.000.000đ đến 800.000.000đ = 20.000.000 đồng +4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000đ)
Bà Nguyễn Thị Việt T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho bà T 10.597.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0009145 ngày 22/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; điểm b, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 244; Khoản 1 Điều 147; Khoản 1 Điều 273; Khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Áp dụng Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015
- Áp dụng: Điều 18 Nghị Định 19/NĐ- CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ về họ, hụi, biêu, phường.
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Tuyên xử:
1.Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị V Thùy kiện bà Nguyễn Thị H về việc "Tranh chấp hợp đồng góp hụi".
2. Buộc bà Nguyễn Thị H phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Việt T số tiền hụi: 404.800.000 đồng (Bốn trăm lẻ bốn triệu, tám trăm ngàn đồng).
3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 20.192.000 đồng của số tiền 404.800.000đồng (từ 400.000.000đ đến 800.000.000đ = 20.000.000 đồng +4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000đ)
Bà Nguyễn Thị Việt T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho bà T 10.597.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0009145 ngày 22/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.
3. Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày bà Nguyễn Thị Việt T có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng bà Nguyễn Thị H còn phải trả lãi cho bà Nguyễn Thị Việt T theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sư năm 2015, đối với số tiền chậm thi hành án.
4. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND huyện Châu Thành; - Chi cục THADS huyện Châu Thành; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Văn Vinh |