vanban.org

Bản án 18/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Văn Toản.

Buộc anh Mai Xuân Thạo có nghĩa vụ trả nợ cho anh Toản số tiền nợ gốc là 115.000.000đ và lãi 23.000.000đ; tổng cộng là 138.000.000đ(Một trăm ba tám triệu đồng) Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành, thì hàng tháng bên phải thi hàn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Phạm văn T-Mai Xuân T"
  • Tòa quyết gì? Xử: 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Văn Toản.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2024/DS-ST
Ngày: 12-12-2024
V/v: tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Huệ

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Mai Thị Bình

2. Ông Nguyễn Văn Quản

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Yến Nhi - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nga Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 32/2024/TLST-DS ngày 20 tháng 8 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXX-ST ngày 16 tháng 10 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà, số 24/2024/QĐST-DS, ngày 15/11/2024, giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Anh Phạm Văn Toản - Sinh năm 1984

Địa chỉ: Thôn Quang Tiền, xã Quảng Đức, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. (có mặt)

2/ Bị đơn: Anh Mai Xuân Thạo - Sinh năm 1978

Địa chỉ: Thôn 1, xã Nga Trung, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 13/8/2024, bản tự khai, nguyên đơn anh Phạm Văn Toản trình bày: Do có mối quan hệ quen biết, ngày 15/3/2024, anh Mai Xuân Thạo có nhận làm công trình cho người quen của anh nên anh đã chuyển tiền tạm ứng cho anh Thạo số tiền là 120.000.000đ (một trăm hai mươi triệu đồng). Hình thức chuyển khoản qua tài khoản Ngân hàng. Sau đó, anh Thạo không làm công trình cho người quen của anh nữa nhưng anh Thạo cũng không có động thái trả lại tiền đã tạm ứng. Anh nhiều lần yêu cầu anh Thạo trả lại tiền nhưng anh Thạo vẫn khất lần, không trả. Ngày 19/01/2023, anh Mai Xuân Thạo trả cho gia đình anh được 5.000.000đ. Số tiền còn lại 115.000.000đ, anh Thạo viết giấy nhận nợ cho anh và cam kết trả nợ, cụ thể: Đợt 1: Ngày 22/02/2023 dương lịch (ngày 01/01/2023 âm lịch), trả số tiền 57.500.000đ; đợt 2: Ngày 20/3/2023 trả hết số tiền 57.500.000đ. Về lãi suất: thoả thuận miệng. Quá hạn anh Thạo vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho anh. Để đảm bảo quyền lợi, anh đề nghị anh Thạo trả số tiền còn nợ 115.000.000đ cho anh; về lãi suất: anh Thạo thực hiện nghĩa vụ thanh toán tạm tính từ ngày 20/3/2023 đến ngày 20/7/2024, cụ thể: 115.000.000đ x 1%/tháng x 16 tháng = 18.400.000đ. Tổng tiền gốc và lãi anh Thạo thanh toán 133.400.000đ và lãi suất phát sinh tính từ ngày 21/7/2024 đến khi vụ án được giải quyết xong.

Đối với bị đơn: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác theo quy định của pháp luật, nhưng anh Thạo nhận văn bản nhưng cố tình vắng mặt nên không có lời khai trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, lần 1 các đương sự vắng mặt; tại họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần 2 anh Thạo vắng mặt nên việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ chỉ tiến hành được với nguyên đơn, đồng thời Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Để đảm bảo quyền lợi của các đương sự trong vụ án, Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử theo quy định.

Mặc dù anh Thạo đã được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử (HĐXX) quyết định hoãn phiên tòa.

Tại phiên tòa hôm nay, anh Toản vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu. Đối với bị đơn, anh Thạo được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai, vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt anh Thạo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn.

* Về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu của Nguyên đơn: Theo giấy nhận nợ, đánh máy đề ngày 19/01/2023, anh Thạo còn nợ anh Toản số tiền 115.000.000đ và cam kết trả nợ, cụ thể:

- Ngày 22/02/2023 dương lịch (tức ngày 01/01/2023 âm lịch), trả số tiền 57.500.000đ.

- Ngày 20/3/2023 trả hết số tiền 57.500.000đ

Do anh Thạo vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo cam kết nên anh Toản khởi kiện yêu cầu anh Thạo thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền còn nợ 115.000.000đ; về lãi suất: anh Thạo thực hiện nghĩa vụ thanh toán tạm tính từ ngày 20/3/2023 đến ngày xét xử (12/12/2024) là 20 tháng 21 ngày (đồng ý tính tròn là 20 tháng, còn 21 ngày thì anh không yêu cầu), cụ thể: 115.000.000đ x 1%/tháng x 20 tháng = 23.000.000đ. Tổng tiền gốc và lãi anh Thạo thanh toán 138.000.000đ (Một trăm ba tám triệu đồng)

Xét số tiền bị đơn vay của nguyên đơn: Trước khi anh Thạo viết giấy nhận nợ số tiền cho anh Toản thì hai bên có nhận tiền 120.000.000đ qua hình thức chuyển khoản. Do anh Thạo không tiếp tục công việc đã nhận làm công trình nên anh Thạo mới viết giấy nhận nợ số tiền nhận từ tài khoản anh Toản chuyển đến. Hai bên thống nhất chốt nợ: anh Thạo còn nợ anh Toản số tiền như giấy nhận nợ, đề ngày 19/01/2023 có chữ ký của người cho vay Phạm Văn Toản và người vay Mai Xuân Thạo; lãi suất thỏa thuận miệng, không ghi trên giấy vay.

Xét việc vay và trả nợ của các đương sự:

Quá trình nhận được tiền do anh Toản chuyển khoản, bị đơn Mai Xuân Thạo đã trả được 5.000.000đ, số tiền còn nợ lại 115.000.000đ, anh Thạo cam kết ngày 22/02/2023 trả số tiền 57.500.000đ; ngày 20/3/2023 trả hết số tiền 57.500.000đ. Tuy nhiên, quá thời hạn vay nguyên đơn thông báo để bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng bị đơn không được. Anh Toản yêu cầu anh Thạo trả tiền gốc đã vay là 115.000.000đ; lãi suất là 20 tháng, cụ thể: 115.000.000đ x 1%/tháng x 20 tháng = 23.000.000đ. Như vậy, anh Toản yêu cầu anh Thạo phải số tiền gốc và lãi là 138.000.000đ, là có cơ sở nên HĐXX chấp nhận.

Về án phí: Anh Mai Xuân Thạo phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (138.000.000đ x 5%) theo quy định.

Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí DSST anh Toản đã nộp theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463; Điều 465; Điều 466; Điều 468 và Điều 470 của Bộ luật dân sự năm 2015; điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và danh mục án phí kèm theo.

Xử: 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Văn Toản.

Buộc anh Mai Xuân Thạo có nghĩa vụ trả nợ cho anh Toản số tiền nợ gốc là 115.000.000đ và lãi 23.000.000đ; tổng cộng là 138.000.000đ(Một trăm ba tám triệu đồng)

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

2/ Về án phí: Anh Mai Xuân Thạo phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm (DSST) là 6.900.000đ (Sáu triệu chín trăm nghìn đồng).

Hoàn trả lại cho anh Phạm Văn Toản, số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.335.000đ (Ba triệu ba trăm ba lăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, ký hiệu: BLTU/23, số 0005428, ngày 19/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

3/ Quyền kháng cáo: Anh Toản có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Thạo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ