vanban.org

Bản án 18/2023/HSST — Hình sự

TAND Q. Ô Môn, TP. Cần Thơ Tuyên án 19/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Nguyễn Phước S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: Nguyễn Phước S 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Phước S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN M
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2023/HSST
Ngày: 19-4-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN M,THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Hồng Nương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Minh Thi

2. Bà Phạm Thị Bích Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Thu Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân quận M, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận M, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Quốc - Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân quận M, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2023/HSST ngày 16 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2023/QĐXXST – HS ngày 22 tháng 4 năm 2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Phước S

Tên gọi khác: không.

Sinh ngày 04 tháng 6 năm 1991.

Nơi sinh: Cần Thơ.

Nơi cư trú: khu vực R, phường T, Quận M, thành phố Cần Thơ.

Nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 06/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1950 (sống) và mẹ bà Hồ Thị T sinh năm 1950 (sống); anh chị em ruột: có 03 người; vợ Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1995; con: có 01 người, sinh năm 2018.

Tiền sự: 01 lần. Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 18/QĐ-XPHC ngày 16/3/2022, Nguyễn Phước S bị Trưởng công an xã Đông Hiệp, huyện Cờ Đỏ xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Chấp hành nộp phạt ngày 23/3/2022.

Tiền án: 02 lần;

+ Lần 1: Ngày 16/12/2011 bị Tòa án nhân dân quận M, thành phố Cấn Thơ xử phạt 06 năm tù về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại khoản 3, Điều 104 Bộ luật hình sự 1999. Chưa được xóa án tích do chưa chấp hành xong phần bồi thường dân sự.

+ Lần 2: Ngày 28/4/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cấn Thơ xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự 1999. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/02/2021.

Bị cáo Nguyễn Phước S bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/12/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, Công an quận M, thành phố Cần Thơ. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: : Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1992. Địa chỉ: khu vực H, phường T, quận M, thành phố Cần Thơ. Xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Bá T, sinh năm: 1984. Địa chỉ: khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.

NHẬN THẤY:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài nên khoảng 23 giờ 00 phút ngày 15/12/2022, bị cáo Nguyễn Phước S, điều khiển xe môtô biển số: 63S1-0187 đi tìm tài sản bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Bị cáo S bắt đầu đi từ nhà trọ tại khu vực T, phường T, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ về địa bàn quận M, thành phố Cần Thơ để tìm tài sản. Đến khoảng 01 giờ sáng ngày 16/12/2022 bị cáo đi đến khu vực H, phường T, quận M, thành phố Cần Thơ thì phát hiện nhà của Nguyễn Thanh T, sinh năm: 1992, nơi thường trú: khu vực H, phường T, quận M, thành phố Cần Thơ không đóng cửa và có ánh đèn điện sáng. Lúc này, bị cáo dừng xe cách nhà T khoảng 100 mét hướng về quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ rồi trèo qua hàng rào để vào nhà. Bị cáo S quan sát T đang nằm ngủ và để một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max màu đen ở gần bên nên đã lén lút lấy trộm điện thoại và bỏ đi. S đem điện thoại trộm được về nhà tại khu vực R, phường T, quận M, thành phố Cần Thơ. Đến sáng ngày 16/12/2022, S mang điện thoại đi đến cửa hàng điện thoại di động “N” địa chỉ tại khu vực T, phường L, quận M, thành phố Cần Thơ để bán cho Nguyễn Ngọc D nhưng do điện thoại không mở được mật khẩu nên anh D không mua. Bị cáo S tiếp tục đem điện thoại về nhà, đến chiều ngày 17/12/2022, S đem điện thoại đến cửa hàng điện thoại di động “Út S” địa chỉ tại khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ để bán cho U, tuy nhiên do điện thoại không mở được mật khẩu nên anh U không mua. U chỉ cho S đem điện thoại đến cửa hàng điện thoại di động “T” địa chỉ phường T, quận T, thành phố Cần Thơ do anh Nguyễn Bá T làm chủ xem có mua hay không. Sau đó, S đi đến cửa hàng điện thoại của anh T để bán, T đồng ý mua với giá 5.000.000 đồng. Sau khi bán được điện thoại S đến cửa hàng điện thoại “H” thuộc khu vực T phường L, quận M, thành phố Cần Thơ mua 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen cùng sim số 0706802411, số tiền còn lại S sử dụng cá nhân hết.

Sau khi mua điện thoại của S, T đem gởi đến cửa hàng điện thoại di động “T” địa chỉ: số 115, đường L, phường A, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ do anh V làm chủ để mở mật khẩu điện thoại. Lúc này, Nguyễn Thanh T định vị được vị trí điện thoại của mình nên trình báo cơ quan Công an. Qua xác minh đã thu giữ được điện thoại bị mất trộm.

Quá trình điều tra, Nguyễn Phước S đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và phù hợp với tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập được.

Căn cứ kết luận định giá tài sản số: 147/KL - HĐĐGTS ngày 21/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận M kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14, ProMax 128 GB, màu đen, Imei số: 359265386063768, số Seri V06W77RKFQ, có giá trị còn lại là 28.667.000 đồng.

Ngày 03/01/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận M, thành phố Cần Thơ đã trả lại điện thoại di động hiệu thu giữ cho Nguyễn Thanh T. Hiện anh T không yêu cầu về phần dân sự đối với bị cáo S.

Đối với Nguyễn Bá T khi mua điện thoại di động từ Nguyễn Phước S thì Trung không biết nguồn gốc điện thoại này từ đâu mà có nên không xem xét xử lý trong vụ án này. Hiện T cũng không yêu cầu S trả lại số tiền 5.000.000 đồng đã mua điện thoại từ S.

Đối với xe môtô hiệu Wave, màu đỏ, biển số: 63S1-0187 do Dương Huỳnh T cư ngụ tại số 100, P, khu 4, phường 2, thị xã G, tỉnh Tiền Giang đứng tên chủ sở hữu. Nguyễn Thị Mỹ Á mua lại xe này và giao cho cha mình là ông Nguyễn Văn C (cha ruột S) sử dụng hàng ngày. Khi S sử dụng xe này đi trộm cắp tài sản ông C không biết nên Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an quận M giao trả xe môtô này cho ông C.

Tại Bản cáo trạng số: 16/CT-VKS-OM ngày 14 tháng 3 năm 2023 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận M đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân quận M để xét xử bị cáo Nguyễn Phước S về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm trình bày lời luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo Cáo trạng số 16/CT-VKS-OM ngày 14 tháng 3 năm 2023 của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận M, thành phố Cần Thơ. Qua phân tích động cơ, mục đích phạm tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/12/2022.

Về trách nhiệm dân sự: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Về vật chứng trong vụ án đề nghị áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: đề nghị ghi nhận đã trả lại cho cho bị hại 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14, ProMax 128 GB, màu đen. Đối với xe môtô hiệu Wave, màu đỏ, biển số: 63S1-0187 do Dương Huỳnh T đứng tên chủ sở hữu. Nguyễn Thị Mỹ Á mua lại xe này và giao cho cha mình là ông Nguyễn Văn C (cha ruột S) sử dụng hàng ngày. Khi S sử dụng xe này đi trộm cắp tài sản ông C không biết nên đề nghị ghi nhận Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an quận M giao trả xe môtô này cho ông C là phù hợp.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, bên trong có gắn sim số 0706802411 đã qua sử dụng, là tài sản có được từ nguồn tiền chiếm đoạt, phạm tội, nên tịch thu sung công.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J5, màu trắng, bên trong không có sim, đã qua sử dụng, không chứng minh được có liên quan đến vụ án, đây là tài sản cá nhân của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận M, điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án; của Viện kiểm sát nhân dân Quận M, Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Về căn cứ buộc tội: Lời khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa; Các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị can tại cơ quan điều tra; Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm ngày 16/12/2022; Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường ngày 21/12/2022; Kết luận định giá tài sản số 148/KL-HĐĐGTS ngày 21/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND quận M, thành phố Cần Thơ; Biên bản bắt bị can để tạm giam ngày 22/12/2022; các Biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật ngày 17/12/2022; các biên bản ghi lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; tang vật và chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ và cơ sở kết luận:

Do cần tiền tiêu xài cá nhân khoảng 23 giờ 00 phút ngày 15/12/2022, bị cáo Nguyễn Phước S điều khiển xe môtô biển số: 63S1-0187 bắt đầu đi từ nhà trọ tại khu vực T, phường T quận T, thành phố Cần Thơ về địa bàn quận M, thành phố Cần Thơ để tìm tài sản lấy trộm. Đến khoảng 01 giờ 00 phút ngày 16 tháng 12 năm 2022, bị cáo Nguyễn Phước S phát hiện tại nhà : Anh Nguyễn Thanh T, thuộc khu vực H, phường T, quận M, thành phố Cần Thơ không đóng cửa và có ánh đèn, bị cáo chèo qua hàng rào để vào nhà lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu hiệu Iphone 14, ProMax 128 GB, màu đen rồi bỏ đi. Lúc 7 giờ 30 phút ngày 16/12/2022 : Anh Nguyễn Thanh T trình báo công an về sự việc bị mất trộm 01điện Iphone 14, ProMax 128 GB này. Căn cứ kết luận định giá tài sản số 148/KL-HĐĐGTS ngày 21/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND quận M kết luận: di động hiệu hiệu Iphone 14, ProMax 128GB, màu đen, Imei số: 359265386063768, số Seri V06W77RKFQ, giá trị còn lại là 28.667.000 đồng.

Bị cáo Nguyễn Phước S là công dân đủ tuổi và đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của bản thân gây ra, lợi dụng vào sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ tài sản, bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản với lỗi cố ý. Nhân thân bị cáo S ngày 16/12/2011 bị Tòa án nhân dân quận M, thành phố Cần Thơ xử phạt 06 năm tù về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại khoản 3, Điều 104 Bộ luật hình sự 1999, đến nay chưa thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bị hại. Ngày 28/4/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cấn Thơ xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Như vậy, bị cáo Nguyễn Phước S đã tái phạm, chưa được xóa ánh tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi lấy trộm tài sản trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành Tội trộm cắp tài sản, định khung “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, xét việc đưa ra truy tố, xét xử đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Về tính chất hành vi phạm tội: Bị cáo trong độ tuổi lao động, bản thân có sức khỏe nhưng không lo chí thú làm ăn, tìm công việc phù hợp có thu nhập hợp pháp để nuôi sống bản thân, giúp ích cho gia đình và xã hội. Để có tiền tiêu xài cá nhận, bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của người khác, nhân thân có một tiền án về hành tội trộm cắp tài sản, sau khi chấp hành xong các án phạt tù về không lấy đó làm răn đe, làm lại cuộc đời lại tiếp tục đi vào con đường phạm tội, thể hiện sự liều lĩnh xem thường pháp luật của bị cáo. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương nên phải bị pháp luật trừng trị. Để có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục cải tạo, khi tái hòa nhập cộng đồng bị cáo sống đặt mình trong khuôn khổ pháp luật.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có. Xét bị cáo tỏ rõ sự ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo; đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; tài sản chiếm đoạt được thu hồi trả lại cho bị hại nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: : Anh Nguyễn Thanh T đã nhận lại tài sản bị mất. Anh T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên cần chấp nhận.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Nguyễn Phước S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Nguyễn Phước S 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn phạt tù tính từ ngày 22 tháng 12 năm 2022.

Trách nhiệm dân sự: : Anh Nguyễn Thanh T đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm nên không đặt ra xem xét giải quyết.

- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự :

Ghi nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận M đã trả lại cho : Anh Nguyễn Thanh T 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14, ProMax 128 GB, màu đen, Imei số: 359265386063768, số Seri V06W77RKFQ, đã qua sử dụng.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số Imei: 354275385728456, bên trong có găn sim số 0706802411, đã qua sử dụng.

Trả lại cho bị cáo gồm: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J5, màu trắng, số Imei 1: 357202077457613/01; số Imei 2: 357203077457611/01, bên trong không có sim, đã qua sử dụng

(Vật chứng quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 15/QĐ-VKSOM ngày 14/3/2023 của Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân quận M).

Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án đối với bị cáo, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ