- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thành Lam - phạm tội hiếp dâm (điều 141 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Thành L phạm tội “Hiếp dâm”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 13 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2023/HSST Ngày 26-4-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Quốc Tú; Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Hải; 2. Ông Hoàng Nghĩa Toàn.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Oanh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyêntham gia phiên toà: Ông Nguyễn Phi Thăng- Kiểm sát viên. Ngày 26 tháng 4 năm 2023 tại Hội trường Toà án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự thụ lý số 05/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2023 về tội "Hiếp dâm" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ tên: Trần Thành L, tên gọi khác: không; sinh ngày 01 tháng 7 năm 1990 tại xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm H, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Công nhân; văn hóa: lớp 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H- đã chết và bà Võ Thị T – sinh năm: 1971; vợ: Phạm Thị T1 – sinh năm: 1990; con: có hai con, lớn nhất sinh năm: 2012, nhỏ nhất sinh năm: 2019; tiền án: Không, tiền sự: Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 346/QĐ-XPHC ngày 26/11/2021 của Công an xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi Xâm hại sức khỏe người khác. Chấp hành xong ngày 01/12/2021.
Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 64/2007/HSST ngày 26/69/2007, TAND huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An xử phạt 36 tháng tù về tội “Phá hủy công trình phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia”.
Tại Bản án phúc thẩm số 115/07/HSPT ngày 19/9/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 18 tháng tù về tội “Phá hủy công trình phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia”.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2007/HSST ngày 28/9/2007, TAND huyện Hưng Nguyên xử phạt 15 tháng tù về tội “Phá hủy công trình phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia”. Tổng hợp hình phạt 33 tháng tù. Chấp hành xong ngày 30/8/2010. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 17 tháng 10 năm 2022 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Thành L: Bà Hoàng Thị Hương L1; sinh năm: 1953; Luật sư thuộc đoàn luật sư tỉnh N; công tác tại: Công ty L2; Địa chỉ: Số F, đường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Người bị hại:
1, Bà Võ Thị T; sinh năm: 1971; địa chỉ: xóm H, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Người làm chứng:
1, Anh Hồ Viết C; sinh năm: 1993; địa chỉ: Xóm Đ, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
2, Anh Phan Văn T2; sinh năm: 1993; địa chỉ: xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ, ngày 16 tháng 10 năm 2022, sau khi hết giờ làm việc tại Khu công nghiệp V, Trần Thành L đi uống rượu với bốn người bạn gồm: Hồ Viết C, sinh năm 1993, trú tại xóm Đ, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; Phan Văn T2, sinh năm 1993 trú tại xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An và hai người khác (L không biết rõ tên, tuổi địa chỉ cụ thể của hai người này) tại Quán C1, thuộc xóm T, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Sau khi uống rượu xong, đến khoảng 22h00 cùng ngày 16/10/2022, L và C và những người khác tiếp tục đi hát Karaoke ở thành phố V, tỉnh Nghệ An (Cụ thể quán nào thì L không nhớ) trong quá trình hát có uống thêm bia. Đến khoảng 00h ngày 17 tháng 10 năm 2022, sau khi hát xong, L được bạn chở về nhà. Khi về đến nhà L về nhà gõ cửa phòng ngủ của mẹ đẻ là bà Võ Thị T, trú tại xóm H, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An và gọi bà T “Dậy nói chuyện với con”, bà T dậy đi ra ngồi ở ghế sô pha tại phòng khách, L ngồi trên ghế M, Lam chửi, nói bà T về việc bà T nói xấu L với người khác và chuyện người yêu của L. Lam to tiếng và chửi bà T được một lúc, lợi dụng L không để ý bà T lẻn đi ra ngoài sang nhà hàng xóm. Lúc L ngoảnh lại không thấy bà T liền đi tìm, L lấy điện thoại gọi cho bà T thì nghe tiếng chuông điện thoại ở trong phòng ngủ tầng 1 nên đi vào phòng ngủ lấy máy điện thoại của bà T. Sau đó L đi ra phía nhà cũ bật đèn tìm, bà T đang ngồi nghe thấy tiếng động mạnh ở nhà cũ nên đi về nấp sát tường nhà để nghe ngóng thì L đi ra nhìn thấy, L đe dọa bà T “Đi vào nhà nói chuyện, không vô là tôi đốt nhà”, sau đó bà T đi theo L, do sợ hãi nên bà T đứng ở thềm nhà, L tiếp tục đe doạ “Lên tầng 2 để nói chuyện, không vô là đốt nhà”, bà T đi vào ngồi ở ghế sô pha, bà T nói với L “Con đừng làm khổ mẹ”, L nói “Tau cho khổ, cho nhục, cho xấu luôn”, nói xong thì L đi lại chỗ bà T đang ngồi ở ghế sô pha, kéo bà T dậy và lột quần bà T ra, đè bà T nằm ngửa trên ghế sô pha (đầu hướng ra phía ngoài cửa, chân vào trong), rồi L cởi quần của mình nằm lên người bà T rồi dùng dương vật đưa vào trong âm đạo để giao cấu với bà T, bà T nói với L “Răng con làm mẹ nhục nhã ri”, thì L nói “Bị ma ám”, rồi L bắt bà T quỳ xuống để L thực hiện giao cấu từ phía sau, sau đó bắt bà T xuống sàn nhà, bắt nằm ngửa, quỳ xuống để L giao cấu, khi đang giao cấu thì L lấy máy điện thoại SamSung Galaxy M32 của bà T, bắt bà T mở mật khẩu, L dùng điện thoại tìm, mở phim khiêu dâm tại trang XXPHIM.COM có nội dung loạn luân bố chồng nàng dâu trên ứng dụng Chrome rồi để điện thoại dưới sàn nhà để xem và tiếp tục giao cấu với bà T. Sau đó, L bắt bà T lên nằm trên sô pha để tiếp tục giao cấu, một lúc sau L xuất tinh thì dừng lại. Sau khi thực hiện xong hành vi giao cấu với bà T, L đi lên phòng của mình ở tầng 2 ngủ. Sáng ngày 17/10/2022, bà Võ Thị T trình báo cơ quan chức năng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Trần Thành L.
Tại Kết luận giám định pháp y về tình dục số 66/TTPY ngày 17/10/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh N kết luận:
+ Trên cơ thể Võ Thị T không có dấu vết tổn thương.
+ Màng trinh đã qua sinh đẻ nên không còn màng trinh.
+ Không có dấu vết tổn thương tại bộ phận sinh dục.
- Kết luận giám định pháp y về tình dục số 67/TTPY ngày 18/10/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh N kết luận:
Phát hiện thấy tinh trùng trong dịch âm đạo của Võ Thị T.
- Kết luận giám định ADN số HT520.22/PY-XNSH ngày 28/10/2022 của V đối với mẫu dịch thu được trong âm đạo của Võ Thị T:
Dấu vết trên tăm bông thu mẫu dịch trong bộ phận sinh dục của chị Võ Thị T (ký hiệu M1) có ADN nhiễm sắc thể Y, trùng khớp với ADN nhiễm sắc thể Y từ mẫu tóc của Trần Thành L (ký hiệu M2).
Quá trình điều tra, bà Võ Thị T có đơn từ chối giám định về rối loại tân thần của bản thân nên không có có cơ sở để xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể.
Trong quá trình điều tra do Trần Thành L có dấu hiện của bệnh tâm thần nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H tiến hành giám định tâm thần đối với L.
Tại Bản Kết luận giám định pháp y về tâm thần số 72/KLGĐ ngày 26/01/2023 của Phân Viện pháp y tâm thần Bắc miền trung thuộc V1 kết luận:
+ Tại thời điểm trước khi thực hiện hành vi phạm tội, bị can Trần Thành L bị bệnh Rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng rượu với hội chứng nghiện rượu. Theo Phân loại Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 (ICD 10), có mã bệnh là: F10.2.
Tại thời điểm này, bị can Trần Thành L đủ khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.
+ Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội (Ngày 17/10/2022) bị can Trần Thành L bị bệnh: Rối loạn loạn thần do sử dụng rượu, theo Phân loại Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 (ICD 10) có mã bệnh là: F10.5.
Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội (Ngày 17/10/2022), do hoang tưởng chi phối, bị can Trần Thành L mất khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.
+ Tại thời điểm sau khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định bị can Trần Thành L bị bệnh: Rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng rượu với Hội chứng nghiện, hiện đang cai nhưng ở trong môi trường được bảo vệ. Theo Phân loại Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 (ICD 10), có mã bệnh là: F10.21.
Tại sau khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định, bị cáo Trần Thành L đủ khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.
Ngày 27 tháng 10 năm 2022, cơ quan cảnh sát điều tra đã ra Quyết định thực nghiệm điều tra cho Trần Thành L diễn tả lại hành vi xâm hại tình dục bà Võ Thị T. L đã diễn tả lại hành vi hoàn toàn phù hợp với lời trình bày của bà Võ Thị T.
Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra cơ quan công an thu giữ 01 (Một) áo cộc tay màu trắng; 01 (Một) quần lửng màu đen chấm bi; 01 (Một) quần lót màu đỏ; 02 (Hai) nệm ghế sô pha kẻ ca rô màu trắng nâu. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại cho bà Võ Thị T 02 (Hai) nệm ghế sô pha kẻ ca rô màu trắng nâu.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trần Thành L đã đền bù dân sự cho bà Võ Thị T số tiền 1.000.000 đồng.
Bản Cáo trạng số 10/VKS-HS ngày 20 tháng 2 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An đã truy tố Trần Thành L phạm tội “Hiếp dâm” quy định tại điểm e Khoản 2 Điều 141 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện VKSND huyện Hưng Nguyên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Về hành vi phạm tội của bị cáo đã rõ ràng, bị cáo thừa nhận hành vi của mình nên Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên về tội danh như Cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng áp dụng: điểm e Khoản 2 Điều 141; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Thành L từ 8 năm đến 8 năm 06 tháng tù. Vật chứng xử lý theo quy định pháp luật. Về án phí: buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Người bị hại không tranh luận: Mức án mà đại diện viện kiểm sát đề nghị là quá cao.
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Thành L trình bày lời bào chữa:
+ Về hành vi và tội Danh: Lời khai trong quá trình xét hỏi và lời khai tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án nên về phần tội danh luật sư không có ý kiến tranh luận.
+ Về tình tiết tăng nặng như cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu là đúng với quy định của pháp luật.
+ Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Trần Thành L lớn lên trong vùng giáo, trình độ văn hóa lớp 6/12 nên nhận thức pháp luật bị hạn chế.
Bị cáo bị nghiện rượu nên bị ma men dẫn lối đưa đường. Thực hiện hành vi phạm tội khi bị bệnh rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng rượu bia nên K đề nghị xem xét xử phạt bị cáo mức án nhẹ hơn mức án mà viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa để bi cáo sớm trở về với gia đình.
Bị cáo trình bày lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Xét về chứng cứ xác định tội danh: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai của Bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: đơn trình báo lập ngày 17 tháng 10 năm 2022; Biên bản khám nghiệm hiện trường, các biên bản thực nghiệm điều tra, Bản kết luận giám định pháp y về tình dục và các chứng cứ tài liệu có tại hồ sơ vụ án.
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 00 giờ 15 phút ngày 17/10/2022, tại nhà ở của mình tại xóm H, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An, Trần Thành L đã đe dọa uy hiếp tinh thần thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn đối với bà Võ Thị T là mẹ ruột của L.
Trần Thành L bị bệnh rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng rượu bia với hội chứng nghiện rượu, có đủ khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình. Tuy nhiên, do chủ động uống rượu bia (không ai ép) nên tại thời điểm phạm tội, Trần Thành L do hoang tưởng chi phối nên mất khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định, bị cáo Trần Thành L đủ khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi. Do vậy, bị cáo Trần Thành L phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình theo quy định tại Điều 13 bộ luật hình sự.
Như vậy, hành vi của bị cáo dùng vũ lực để quan hệ tình dục trái với ý muốn của bà Võ Thị T là mẹ ruột của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Hiếp dâm” theo quy định tại điểm e Khoản 2 Điều 141 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
. Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội đối với bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm của người khác được pháp luật bảo vệ. Chỉ vì để thoả mãn dục vọng của bản thân, bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật, cũng như các chuẩn mực đạo đức xã hội, đe doạ dùng vũ lực giao cấu trái ý muốn của mẹ đẻ bị cáo, gây mất trật tự xã hội, ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục và các giá trị đạo đức, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân.
Bị cáo là người có tiền sự, Năm 2021 bị Công an xã H xử phạt hành chính vì hành vi xâm hại sức khoẻ của người khác, có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị Toà án tuyên phạt về tội “phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cảnh tỉnh, tu dưỡng bản thân mà tiếp tục phạm tội. Từ đó có thể thấy bị cáo là người coi thường Pháp luật. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để giáo dục và phòng ngừa chung. Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bị cáo đã tác động đến bạn của bị cáo bồi thường cho bà Võ Thị T số tiền 1.000.000 đồng, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đó là các tình tiết giảm nhẹ quy định điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 bộ luật Hình sự.
. Về hình phạt bổ sung: Trước khi bị bắt, bị cáo là công nhân lao động nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Do bà Võ Thị T không yêu cầu nên Toà không xem xét.
. Về xử lý vật chứng: 01 (Một) áo cộc tay màu trắng; 01 (Một) quần lửng màu đen chấm bi; 01 (Một) quần lót màu đỏ là vật không có giá trị. Tại phiên tòa người bị hại không có yêu cầu nhận lại nên tịch thu, tiêu hủy.
. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Thành L phạm tội “Hiếp dâm”.
Áp dụng: Điểm e Khoản 2 Điều 141; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 13 và Điều 38 Bộ luật hình sự 2015;
Xử phạt: Bị cáo Trần Thành L 8 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17 tháng 10 năm 2022.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (Một) áo cộc tay màu trắng; 01 (Một) quần lửng màu đen chấm bi; 01 (Một) quần lót màu đỏ;
(Đặc điểm chi tiết có tại Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 21 tháng 02 năm 2023 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Nguyên và Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện H).
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 buộc bị cáo Trần Thành L phải chịu 200.000 Vnđ (hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Thời hạn kháng cáo bản án sơ thẩm đối với bị cáo, người bào chữa cho bị cáo và người bị hại có mặt là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Hưng Nguyên; - Công an huyện Hưng Nguyên; - Chị cục THA huyện Hưng Nguyên; - Bị cáo; - Lưu HSVA. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Quốc Tú |