- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gấy thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2023/HS- PT Ngày 11-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mến
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thành
Bà Huỳnh Ái Loan
- Thư ký phiên tòa: Bà Kim Thị Ngà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 21/2023/HSPT, ngày 30 tháng 3 năm 2023 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2023/HS-ST ngày 16 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Trà Vinh.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn L, sinh năm 1987, tại: Trà Vinh. Nơi cư trú: ấp C, xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Bán vé số; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1952 (chết) và bà Trần Thị Th, sinh năm 1954; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ ngày 21/8/2022 đến ngày 30/8/2022 chuyển tạm giam cho đến nay (bị cáo có mặt)
- Bị hại: Hà Thị Hồng N, sinh năm 1978. Nơi cư trú: khóm A, thị trấn O, huyện D, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
Ngoài ra, trong vụ án còn có người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan do không có kháng cáo, không có kháng nghị và không liên quan đến kháng cáo nên không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 20/8/2022, sau khi sử dụng bia, Nguyễn Văn L điều khiển xe mô tô biển số 84F8-3295 định về nhà chị Nguyễn Thị X (chị ruột của L) ở ấp T, xã K để ngủ. Khi đi đến đoạn đường Quốc lộ 53 thuộc ấp D, xã K, L nhìn thấy chị Hà Thị Hồng N (tên gọi khác H là người bạn gái của L đang điều khiển xe mô tô biển số 59Y2-651.64 chạy cùng chiều và chở phía sau một người đàn ông lạ mặt không biết tên, địa chỉ. L tức giận do ghen tuông nên đã kêu chị N dừng xe lại để nói chuyện. Khi chị N dừng xe lại, L bước xuống xe đi lại chỗ xe chị N đang đậu, đồng thời L lấy tay phải rút cây dao bằng kim loại, loại dao Thái Lan được L mua trước đó vắt ở lưng quần ra, còn tay trái của L rút chìa khóa xe của chị N nhằm mục đích không cho chị N điều khiển xe chạy đi được nhưng do ổ khóa xe bị hỏng nên xe vẫn nổ máy. Người đàn ông ngồi phía sau xe của chị N thấy vậy bỏ chạy và lên xe của một người không xác định được họ tên và địa chỉ đi về hướng thị trấn O. L chạy bộ đuổi theo một đoạn nhưng không kịp rồi quay lại chỗ chị N đang đậu xe. Lúc này, chị N đang ngồi trên xe đang nổ máy, L đứng phía bên trái của chị N cách khoảng 0,6 mét và hỏi “Em làm vậy coi được không?”, chị N không trả lời mà tăng ga điều khiển xe chạy đi, ngay lập tức L tay phải cầm cán dao, mũi dao quay về phía người của L hướng xuống đất đâm một cái từ trên xuống, từ trước ra sau trúng vào cánh tay trái của chị N gây thương tích. Sau khi bị đâm trúng, chị N vẫn điều khiển xe đi trên Quốc lộ 53 về hướng thị trấn O cách hiện trường khoảng 800 mét thì té ngã nằm ở ven đường, được người đi đường phát hiện và đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện D rồi sau đó chuyển đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà Vinh cấp cứu và điều trị. Sau khi dùng dao gây thương tích cho chị N, L điều khiển xe mô tô biển số 84F8-3295 đi về nhà của chị Nguyễn Thị X để ngủ. Khi đi đến đoạn đường đal thuộc ấp T, xã K, L đã vứt bỏ cây dao đã gây thương tích cho chị N ở một bụi cây cặp lộ đal. Đến ngày 21/8/2022, bị cáo L đến Cơ quan Công an đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 108/22/TgT ngày 26/8/2022 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh Trà Vinh kết luận tỷ lệ thương tích của chị Hà Thị Hồng N như sau:
- Đứt động mạch cánh tay trái đã khâu nối, tỷ lệ 10%.
- Sẹo lớn vùng 1/3 trên mặt trước trong cánh tay trái, tỷ lệ 03%.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Hà Thị Hồng N là 13%.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích bổ sung số: 173/22/TgT, ngày 03/11/2022 của Trung tâm Pháp y - Sở y tế tỉnh Trà Vinh kết luận tỷ lệ thương tích của chị Hà Thị Hồng N như sau:
- Tổn thương hoàn toàn dây thần kinh giữa cánh tay trái, tỷ lệ 31%.
- Tổn thương không hoàn toàn dây thần kinh cơ bì cánh tay trái, tỷ lệ 11%.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 108/2022/TgT ngày 26/8/2022 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh Trà Vinh kết luận là:
- Đứt động mạch cánh tay trái đã khâu nối, tỷ lệ 10%.
- Sẹo lớn vùng 1/3 trên mặt trước trong cánh tay trái, tỷ lệ 03%.
Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Hà Thị Hồng N là 46% theo nguyên tắc cộng của Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ y tế Quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.
Cơ chế hình thành thương tích trên người của nạn nhân Hà Thị Hồng N là: Do ngoại lực tác động trực tiếp; Vật gây ra thương tích trên là vật cứng có cạnh sắc, nhọn; Hướng từ trước ra sau.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2023/HS-ST ngày 16 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Trà Vinh đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 21/8/2022.
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 03/5/2023, bị cáo Nguyễn Văn L kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn L thừa nhận hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm đã thể hiện, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ gì mới.
- Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh: Sau khi xem xét, phân tích toàn diện các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua tranh tụng công khai tại phiên tòa hôm nay có đủ cơ sở xác định vào lúc 23 giờ ngày 20/8/2022 bị cáo Nguyễn Văn L sau khi sử dụng rượu bia do ghen tuông vì nhìn thấy bạn gái của L là chị Hà Thị Hồng N đi cùng với một người đàn ông khác nên bị cáo L dùng cây dao lưỡi bằng kim loại màu trắng, loại dao Thái Lan có chiều dài 21,5 cm, phần cán dài 11,5 cm đâm vào cánh tay trái của chị N theo hướng từ trên xuống gây thương tích với tổng tỷ lệ thương tích là 46%. Do đó bản án sơ thẩm quy kết bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Cố ý gây thương tích” và căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 06 (sáu) năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ lỗi do hành vi bị cáo đã gây ra. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào đặc biệt mới, nhưng xét thấy cấp sơ thẩm chưa áp dụng hết tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: Bị cáo tác động gia đình khắc phục hậu quả cho bị hại, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ này cho bị cáo theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên những tình tiết giảm nhẹ bổ sung cho bị cáo cũng không làm thay đổi hình phạt mà cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo bị cáo Nguyễn Văn L. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, đều đúng quy định pháp luật, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại gì đối các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nên các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Đơn kháng cáo của bị cáo là còn trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo Nguyễn Văn L thừa nhận: Bị cáo và bị hại Hà Thị Hồng N có quan hệ tình cảm với nhau, trước đó giữa bị cáo và chị N xảy ra mâu thuẫn tình cảm, do bị cáo ghen tuông về việc thấy chị N đi cùng với một người đàn ông nên vào đêm ngày 20/8/2022 bị cáo đã dùng cây dao lưỡi bằng kim loại màu trắng, loại dao Thái Lan có chiều dài 21,5 cm, phần cán dài 11,5 cm đâm vào cánh tay trái của chị N theo hướng từ trên xuống gây thương tích với tổng tỷ lệ thương tích là 46%. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được con dao là loại hung khí nguy hiểm khi đâm vào cơ thể người khác là nguy hại đến tính mạng, sức khỏe của bị hại nhưng chỉ vì ghen tuông mà bị cáo dùng dao đâm bị hại gây thương tích 46%, hành vi bị cáo thực hiện đêm khuya dẫn đến chị N bất tỉnh nếu người dân đi đường không phát hiện kịp thời có thể dẫn đến nguy hiểm tính mạng cho bị hại. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe là vốn quý của con người mà còn tỏ ra xem thường pháp luật, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay mặc dù bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào đặc biệt mới nhưng Hội đồng xét xử xét thấy cấp sơ thẩm chưa áp dụng hết tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: Bị cáo tác động gia đình khắc phục hậu quả cho bị hại, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Xét thấy cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ này cho bị cáo theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên những tình tiết giảm nhẹ bổ sung cho bị cáo tại phiên tòa hôm nay cũng không làm thay đổi tính chất cũng như hành vi nguy hiểm của bị cáo. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 06 (sáu) năm tù là đã xem xét cân nhắc giảm nhẹ cho bị cáo, vì vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn L. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
Đề nghị của Viện Kiểm sát xét xử phúc thẩm phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án, phù hợp quy định pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L không được chấp nhận nên bị cáo phải nộp án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 21/8/2022.
Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ tố tụng hình sự; Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải nộp án 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: -VKSND tỉnh Trà Vinh; - Trại tạm giam; - TAND huyện D; - VKSND huyện D; - CA huyện D; - CC THADS huyện D; - Sở Tư pháp; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Mến |