- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Mạnh T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 2 Điều 134 (Thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134); điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự;
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2023/HS-ST Ngày 21/02/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Chu Thị Tuyết.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trương Công Định;
2. Bà Nguyễn Thị Thu Trang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Khánh Linh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Lương Duy Hiển, Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo: Đào Mạnh T, sinh ngày 01/8/1988, nơi sinh: Tỉnh T1; nơi cư trú: Số nhà 14, ngõ 28, đường L, tổ 11 - 12, phường T2, thành phố T1, tỉnh T1. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; con ông: Đào Hồng T3 và bà Phạm Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 118/2016/HSST ngày 23/6/2016 của Tòa án nhân dân thành phố T1, tỉnh T1 xử phạt 09 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích. Đã chấp hành xong năm 2016. Bị bắt tạm giam từ ngày 06/10/2022.
- Bị hại: Anh Lại Ngọc S, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Thôn H1, xã V, huyện K, tỉnh T1.
- Người làm chứng:
1. Ông Đỗ Văn T4, sinh năm 1959. Nơi cư trú: Số nhà 02, đường Q, tổ 8, phường T2, thành phố T1, tỉnh T1.
2. Anh Phạm Văn L1, sinh năm 1989. Nơi cư trú: Thôn P, xã P1, huyện Đ, tỉnh T1.
3. Anh Hà Văn H2, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Thôn T5, xã T6, huyện K, tỉnh T1.
4. Anh Vũ Anh Đ1, sinh năm 2001. Nơi cư trú: Thôn K1, xã V1, thành phố T1, tỉnh T1.
(Tại phiên tòa có mặt bị cáo, vắng mặt những người tham gia tố tụng khác).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 20 phút ngày 31/7/2022, Đào Mạnh T ngồi uống bia cùng anh Vũ Anh Đ1 và cùng một người nam giới tên T7, sinh năm 1986 (chưa xác định được họ và tên đệm, địa chỉ ở đâu) tại quán bia “C” ở Đường Q, phường T2, thành phố T1. Khoảng 15 phút sau, anh Đ1 và T7 về trước. Sau khi anh Đ1 và T7 về thì T không thấy chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 Plus của mình để trên bàn khi ngồi uống bia T gọi điện hỏi anh Đ1 về chiếc điện thoại thì anh Đ1 trả lời không cầm. Nghi ngờ anh Đ1 cầm điện thoại của mình, T hẹn gặp anh Đ1 ở cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh T1. Khi gặp anh Đ1, T nói với anh Đ1 trả lại chiếc điện thoại cho T nhưng anh Đ1 khẳng định anh Đ1 không cầm. T bức xúc cầm 01 thanh gậy bằng gỗ đứng đối diện anh Đ1 xiên về phía bụng anh Đ1 nhưng không trúng, anh Đ1 bỏ chạy.
Khoảng 08 giờ ngày 01/8/2022, T gọi điện thoại vào số điện thoại của T thì có người nghe máy, người này hẹn T ra cầu M thuộc xã P2 để trả lại điện thoại cho T. T đi ra cầu M thì gặp anh T7 và nhận lại chiếc điện thoại của mình nhưng không hỏi tại sao anh T7 cầm (Hiện chưa làm việc được với anh T7 do chưa xác định được họ tên đầy đủ và địa chỉ ở đâu). Anh Đ1 gọi điện cho T và hẹn gặp T ở quán nước nhà ông Đỗ Văn T4, để nói chuyện. T đến chỗ hẹn thì gặp anh Lại Ngọc S và anh Hà Văn H2 đang ngồi uống nước. Khoảng 10 phút sau, Đ1 đến quán nước, T nói với Đ1: “Đây điện thoại vừa lấy về từ bạn ngồi uống bia cùng với mày”. Anh S hỏi anh Đ1: “Hôm qua thằng nào đánh mày?” thì anh Đ1 chỉ về phía T. Anh S hỏi T: “Hôm qua mày đánh nó à?” thì T nói: “Ừ bố mày đánh đấy”. Anh H2 bảo T: “Có mỗi cái điện thoại anh em đánh nhau làm gì”. Đ1, S và H2 cãi chửi nhau với T. Anh S chạy đến chỗ T dùng hai tay đấm vào người T. Anh H2 chạy đến chỗ T dùng tay phải cầm cổ T, tay trái tát 02 cái vào mặt T và dùng chân phải đạp vào người khiến T ngã ra. Anh Đ1 chạy đến dùng tay tát vào mặt T. Lúc này, ông T4 vào can nên hai bên không đánh nhau nữa. T không bị thương tích gì. Anh S, anh H2 và anh Đ1 tiếp tục ngồi uống nước nhà ông T4 còn T bỏ đi. Do bức xúc việc bị S, Đ1 và H2 đánh nên T đi đến một cửa hàng bán dao trên đường Q mua 01 con dao dài khoảng 80cm rồi quay trở lại quán nhà ông T4. Khi T cầm dao gần đến quán nước nhà ông T4, Đ1 nhìn thấy và nói với S và H2 “Anh ơi, nó
2
kìa”. Thấy T cầm dao trên tay nên cả ba người bỏ chạy ra đường Q hướng lên đê T7. Khi chạy cách quán nhà ông T4 khoảng 05 mét thì S nhặt trên vỉa hè một nửa viên gạch màu đỏ, đứng đối diện cách T khoảng 05 mét dùng tay phải ném về phía T. T giơ tay lên đỡ thì viên gạch trúng vào ngón áp út của bàn tay trái làm ngón tay chảy máu. Sau đó S, Đ1 và H2 bỏ đi, T đến Bệnh viện đa khoa tỉnh T1 để điều trị vết thương ngày 02/8/2022 thì xuất viện.
Khoảng 08 giờ ngày 18/8/2022, T đi bộ ra vườn cây của gia đình tại đường Q, phường T2, thành phố T1 để làm vườn, T mang theo 01 con dao dạng dao quắm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài khoảng 25 cm, mũi dao nhọn, một cạnh lưỡi dao sắc, cán dao bằng tre màu vàng nâu, dài khoảng 70 cm, đường kính khoảng 3cm để chặt cây. Khi đi đến gần quán nước nhà ông Đỗ Văn T4, T thấy anh S đang nằm trên võng trước cửa quán. Lúc này, do bức xúc về việc bị anh S dùng gạch ném gây thương tích ở bàn tay trái của T vào ngày 01/8/2022 nên T cầm dao bằng tay phải đi đến vị trí phía sau, bên phải đầu anh S, cách anh S khoảng 50cm thấy anh S đang nằm trên võng T cầm dao quắm bằng tay phải giơ lên chém 01 phát hướng từ trên xuống dưới về phía người anh S, anh S giơ hai tay lên đỡ thì lưỡi dao trúng vào cẳng tay phải và lòng bàn tay trái. Anh S vùng dậy, đứng đối diện với T, cách T khoảng 50cm thì T tiếp tục cầm dao vụt ngang 01 phát theo hướng từ phải sang trái trúng vào vùng mạn sườn bên trái của anh S. Sau đó, T cầm dao bỏ chạy đến khu vực đường số 7 giao đường số 8, thuộc khu tái định cư C1, tổ 07, phường T2, thành phố T1 thì T ném con dao mang theo xuống lề đường. Anh S bị thương tích ở cẳng tay phải, lòng bàn tay trái và mạn sườn bên trái, điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh T1 đến ngày 24/8/2022 thì xuất viện.
Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 338/22/TgT ngày 08/9/2022 của Trung tâm pháp y - Sở y tế T1 kết luận về thương tích của anh Lại Ngọc S kết luận: Tổn thương do vật sắc tác động làm gãy xương trụ tay phải, đứt gân duỗi ngón 3,4,5 tay phải, đứt gân duỗi cổ tay trụ tay phải, rách da và tổ chức dưới da. Đã được xử trí: xử trí vết thương, kết hợp xương trụ phải, nối gân, truyền dịch thuốc. Hiện tại người bình thường, các ngón tay bàn tay phải cử động còn hạn chế. Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 14%.
Bản Kết luận giám định bổ sung pháp y về thương tích số 481/22/TgT ngày 28/11/2022 của Trung tâm pháp y - Sở y tế T1 kết luận giám định bổ sung về thương tích của anh Lại Ngọc S kết luận: Tổn thương do vật sắc tác động làm gãy xương trụ tay phải, đứt gân duỗi ngón 3,4,5 tay phải, đứt gân duỗi cổ tay trụ tay phải, rách da và tổ chức dưới da. Đã được xử trí: xử trí vết thương, kết hợp xương trụ phải, nối gân, truyền dịch thuốc. Hiện tại duỗi bàn ngón 4,5 tay phải còn hạn
3
chế. Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 17%.
Ngày 19/9/2022, Đào Mạnh T có đơn đề nghị giám định về thương tích do Lại Ngọc S, Hà Văn H2, Vũ Anh Đ1 gây ra cho T. Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 377/22/TgT ngày 29/9/2022 của Trung tâm pháp y - Sở y tế T1 giám định về thương tích của Đào Mạnh T kết luận: Tổn thương do vật cứng tác động làm rách da, tổ chức dưới da và đứt bán phần gân duỗi ngón 4 bàn tay trái. Đã được xử trí: Khâu nối gân, phục hồi vết thương, kháng sinh, giảm đau. Hiện tại người bình thường. Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 02% (Hai phần trăm). Ngày 06/10/2022, Đào Mạnh T có đơn đề nghị không khởi tố đối với những người đã gây ra thương tích cho mình.
Cáo trạng số 21/CT-VKSTPTB ngày 10/01/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Đào Mạnh T về tội: "Cố ý gây thương tích" theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự (Thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.
Tại phiên toà, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình giữ nguyên truy tố đối với bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc điểm a khoản 1 Điều 134); điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo mức án từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/10/2022.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Lại Ngọc S không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại do đã gây thương tích cho anh nên không đặt ra giải quyết.
- Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không bào chữa và không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức rõ về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Thái Bình và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục, đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người làm chứng không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
4
tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.
Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, của người làm chứng và được chứng minh bằng:
- Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường.
- Biên bản xem xét trên thân thể anh Lại Ngọc S.
- Giấy chứng nhận thương tích của anh Lại Ngọc S.
- Kết luận giám định pháp y về thương tích số 338/22/TgT ngày 08/9/2022 của Trung tâm pháp y - Sở y tế Thái Bình.
- Kết luận giám định bổ sung pháp y về thương tích số 481/22/TgT ngày 28/11/2022 của Trung tâm pháp y - Sở y tế Thái Bình.
- Lời khai bị hại, lời khai người làm chứng.
- Bản tự vẽ của bị cáo hình ảnh con dao gây thương tích cho bị hại.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ 10 phút ngày 18/8/2022, tại trước cửa quán nước nhà ông Đỗ Văn T4, sinh năm 1959, địa chỉ số nhà 02, đường Q, tổ 08, phường T2, thành phố T1, tỉnh T1, Đào Mạnh T có hành vi dùng tay phải cầm con dao dạng dao quắm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài khoảng 25 cm, mũi dao nhọn, một cạnh lưỡi dao sắc, cán dao bằng tre màu vàng nâu, dài khoảng 70 cm, đường kính khoảng 3cm chém 01 phát hướng từ trên xuống dưới trúng vào cẳng tay phải và lòng bàn tay trái anh Lại Ngọc S. Anh S vùng dậy, đứng đối diện với T, cách T khoảng 50cm thì T tiếp tục cầm dao chém ngang 01 phát theo hướng từ phải sang trái trúng vào vùng mạn sườn bên trái của anh S. Hậu quả tổn thương do vật sắc tác động làm gãy xương trụ tay phải, đứt gân duỗi ngón 3,4,5 tay phải, đứt gân duỗi cổ tay trụ tay phải, rách da và tổ chức dưới da. Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 17%.
Bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Điều 134 Bộ luật Hình sự: Tội "Cố ý gây thương tích " quy định:
“ 1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a, Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;”.
...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
5
...
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
...
Xét tính chất mức độ hậu quả của vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe người khác. Sức khoẻ của con người là vốn quý, được pháp luật bảo vệ và cần được mọi người tôn trọng. Bị cáo đã dùng hung khí nguy hiểm là con dao gây thương tích cho anh Lại Ngọc S, tỷ lệ tổn hại sức khỏe cho anh S là 17% điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật, coi thường sức khoẻ người khác. Hành vi của bị cáo đã gây ra dư luận rất xấu trong cộng đồng dân cư. Vì vậy cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nhằm mục đích giáo dục, cải tạo bị cáo, góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã 01 lần phạm tội cố ý gây thương tích bị Tòa án đưa ra xét xử, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy đây là lần thứ hai bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích, chứng tỏ bị cáo coi thường sức khỏa của con người, tuy nhiên khi phạm tội do một phần lỗi của bị hại trước đó đã gây ra cho bị cáo. Cần thiết phải xử phạt mức hình phạt nghiêm minh với hành vi phạm tội của bị cáo, phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Lại Ngọc S không yêu cầu bị cáo phải bồi thường bất cứ khoản gì nên không đặt ra giải quyết.
Về các vấn đề khác:
Đối với các anh Vũ Anh Đ1, Hà Văn Huân, Lại Ngọc S đã có hành vi dùng tay chân đấm đá và dùng gạch gây thương tích cho Đào Mạnh T, tỉ lệ tổn thương cơ thể 2% nhưng T đã rút yêu cầu khởi tố đối với 03 anh nên Công an thành phố Thái Bình ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các anh Vũ Anh Đ1, Hà Văn Huân, Lại Ngọc S.
Quá trình điều tra, cơ quan Điều tra Công an thành phố Thái Bình đã tiến hành truy tìm con dao bị cáo dùng để gây thương tích cho bị hại nhưng không tìm thấy.
6
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điều luật:
- Điểm đ khoản 2 Điều 134 (Thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134); điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự;
- Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Đào Mạnh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Đào Mạnh T 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 06/10/2022.
3. Trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Lại Ngọc S không yêu cầu bị cáo phải bồi thường bất cứ khoản gì nên không đặt ra giải quyết.
4. Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 21/02/2023; bị hại anh Lại Văn S có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hợp lệ./.
| Nơi nhận: - Người tham gia tố tụng; - Tòa án ND tỉnh TB; - VKSND tỉnh Thái Bình; - VKSND TP Thái Bình; - Cơ quan CSĐT Công an TP Thái Bình; - Cơ quan THAHS Công an TP Thái Bình; - Chi cục THADS TP Thái Bình; - Lưu: Hồ sơ vụ án. 7 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Thị Tuyết |