- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án TCTS và tiêu thụ - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trung H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; các bị cáo Cao Hoàng T và Phạm AT phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2023/HS-ST Ngày 04 - 4 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Cúc.
Nghề nghiệp: Phó bí thư Huyện đoàn huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
2. Bà Phạm Thị Nga.
Nghề nghiệp: Phó chủ tịch Liên đoàn lao động huyện Yên Định, Thanh Hóa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nương - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 4 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2023/TLST - HS ngày 03 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2023/QĐXXST - HS ngày 21 tháng 3 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Trung H, sinh ngày 24 tháng 5 năm 2006 (tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 03 tháng 01 ngày) tại xã Đ, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Trung T, sinh năm 1976 và bà: Phùng Thị N, sinh năm 1983; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai, chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 13/3/2023 bị cáo bị Công an huyện Yên Định khởi tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Yên Định theo Lệnh bắt tạm giam số 16 ngày 13/3/2023 của Công an huyện Yên Định trong vụ án “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Cao Hoàng T, sinh ngày 29 tháng 01 năm 2005 (tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 06 tháng 27 ngày) tại xã Đông Thanh, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn T 1, xã Đ, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Cao Văn Q, sinh năm 1978 và bà: Hoàng Thị T, sinh năm 1982; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con đầu, chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 13/3/2023 bị cáo bị Công an huyện Yên Định khởi tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Yên Định theo Lệnh bắt tạm giam số 17 ngày 13/3/2023 của Công an huyện Yên Định trong vụ án “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: Phạm AT, sinh ngày 09 tháng 9 năm 2005 (tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 11 tháng 16 ngày) tại xã Quảng Sơn, Thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Văn T (đã chết) và bà: Phan Thị L (đã chết); Bị cáo là con duy nhất trong gia đình, chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 14/03/2023 bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Yên Định theo Quyết định tạm giam số 03 ngày 24/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định trong vụ án “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Trung H: Ông Nguyễn Trung T, sinh năm 1976, là bố đẻ (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Cao Hoàng T: Bà Hoàng Thị T, sinh năm 1982, là mẹ đẻ (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn T 1, xã Đ, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm AT: Bà Đoàn Thị L, sinh năm 1950, là bà nội (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
- Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Trung H, Cao Hoàng T, Phạm AT: Bà Nguyễn Thị Ngà, là trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thanh Hóa (Có mặt).
- Bị hại:
1. Anh Nguyễn Hùng T, sinh ngày 12/7/2006 (Vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp: Bà Lê Thị P, sinh năm 1982 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Khu 1, TT, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
2. Anh Nguyễn Văn H, sinh ngày 05/4/2006 (Có mặt).
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1969 (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Anh Ngô Ngọc Thiện N, sinh ngày 04/10/2006 (Có mặt).
Người đại diện hợp pháp: Bà Lê Thị T, sinh năm 1963 (Có mặt).
Địa chỉ: Khu 1, TT, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
2. Chị Chu Thị Hồng T, sinh năm 1985 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Khu 3, TT, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
- Người làm chứng:
1. Chị Trịnh Thị H, sinh năm 2000 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn T 1, xã Đ, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
2. Anh Trịnh Quốc D, sinh ngày 09/9/2006 (Vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp: Ông Trịnh Quốc V, sinh năm 1952 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn D2, xã Đ, huyện Yên Định, Thanh Hóa.
3. Chị Nguyễn Thị TH, sinh ngày 09/11/2008 (Vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp: Bà Lê Thị P, sinh năm 1982 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Khu 1, TT, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong các ngày 25/8/2022 và 23/9/2022, Nguyễn Trung H đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn TT, huyện Yên Định. Cao Hoàng T và Phạm AT đã có hành vi tiêu thụ tài sản do Hưng phạm tội mà có vào ngày 25/8/2022. Cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào sáng ngày 25/8/2022, Ngô Ngọc Thiện N, sinh ngày 04/10/2006 (15 tuổi 10 tháng 21 ngày) ở Khu 1, TT, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa cùng Nguyễn Trung H, Cao Hoàng T, Phạm AT chơi game tại quán Internet Đại Phúc Lộc ở thôn Vực Phác, xã Đ, huyện Yên Định. Do không có tiền tiêu xài cá nhân, Nghĩa nói với Hưng “xuống lấy điện thoại của thằng Tường mang về đây cho tau”, Hưng đồng ý. Do Hưng không có xe nên Nghĩa vào ứng dụng Messenger trên máy tính và liên lạc với Trịnh Quốc D, sinh ngày 09/9/2006 (15 tuổi 11 tháng 16 ngày) ở thôn D2, xã Đ (là bạn của Nghĩa), nhờ Duy đến quán Đại Phúc Lộc chở Nghĩa đi có việc. Khoảng 10 phút sau Duy đi xe đến, Nghĩa nói với Duy “mi chở thằng Hưng xuống nhà thằng Tường lấy cái áo”. Sau đó Duy chở Hưng đến nhà Nguyễn Hùng T, sinh năm 2006 ở Khu 1, TT, huyện Yên Định. Đến cổng, Duy đứng ngoài chờ, Hưng đi một mình vào nhà Tường thì gặp Nguyễn Thị TH, sinh năm 2008 (là em gái Tường) đang ngồi ở sân. Hưng nói Hà: “Tường ở nhà không em?”, Hà nói: “Anh ấy đang ngủ trong buồng”. Hưng đi vào buồng ngủ trong nhà Tường thì thấy Tường đang ngủ trên giường. Hưng quan sát thấy chiếc điện thoại Iphone XS 64GB màu vàng Gold có ốp lưng bằng cao su màu hồng của Tường đang cắm dây sạc để ở đầu giường dưới gối. Thấy Tường đang ngủ, Hưng rút dây sạc, lấy chiếc điện thoại giấu vào trong cạp quần, đi ra ngoài cổng nơi Duy đang đứng chờ. Khi Hưng ra, Duy không thấy Hưng cầm chiếc áo nào nên hỏi Hưng: “Lấy áo được chưa?”, Hưng trả lời: “Có thằng khác nó lấy rồi”. Sau đó Hưng và Duy đi về quán game Đại Phúc Lộc. Về đến quán, Hưng lấy điện thoại vừa trộm cắp được của Tường đưa cho Nghĩa. Nghĩa cầm điện thoại thì thấy điện thoại có ốp lưng bằng cao su màu hồng, do sợ bị phát hiện nên Nghĩa tháo ốp điện thoại đi ra ngoài vứt vào thùng rác ở quán Đại Phúc Lộc. Nghĩa đi vào quán, đưa điện thoại cho Hưng và nói với Hưng “tí đi cắm điện thoại để đi chơi” rồi tiếp tục ngồi chơi game cùng nhau. Khoảng 10 phút sau, Nghĩa bảo Tuấn gọi xe taxi lên quán để đi chơi, Nghĩa rủ Duy đi chơi cùng thì Duy đồng ý. Sau đó Nghĩa, Hưng, Thái, Tuấn, Duy cùng lên xe taxi đi xuống TT, huyện Yên Định. Qúa trình đi cùng nhau trên xe taxi thì Hưng nói chuyện với mọi người về việc khi Hưng vào nhà Tường lấy trộm điện thoại thì Tường đang ngủ, bố mẹ Tường không có ở nhà, chỉ có em gái Tường đang ở nhà. Ban đầu Nghĩa, Hưng định đến quán Ngà Lam ở đối diện cổng trường THPT Yên Định 1, huyện Yên Định với mục đích để cầm cố chiếc điện thoại, nhưng do Nghĩa sợ bị phát hiện nên bảo cả nhóm đi đến cửa hàng Mạnh Linh ở Khu 3, TT, huyện Yên Định để bán chiếc điện thoại. Lúc này Hưng lấy điện thoại đưa cho Thái và bảo Thái mang vào bán, Thái đồng ý. Ngồi chờ trên xe taxi thấy Thái lâu mà chưa xong nên Tuấn và Hưng đi vào cửa hàng điện thoại Mạnh Linh hỏi Thái xem “sao lâu vậy?” thì Thái nói lại “chờ một tí”. Một lúc sau Thái đi ra và lên xe taxi đưa số tiền 5.200.000đ bán điện thoại cho Nghĩa, Nghĩa đếm tiền xong thì đưa cho Tuấn cầm để trả tiền tiêu xài của cả nhóm hết (BL 84-85, 123-125, 154-157, 178, 193, 199-200).
Kết quả định giá tài sản xác định, chiếc điện thoại của Nguyễn Mạnh Tường nêu trên tại thời điểm bị chiếm đoạt trị giá 4.500.000đ; 01chiếc ốp điện thoại bằng cao su màu hồng có giá trị 10.000đ (BL 252).
Vụ thứ hai: Khoảng 14 giờ ngày 23/9/2022, Nguyễn Trung H cùng Ngô Ngọc Thiện N đến quán Internet Bắp Gameming ở khu 4, TT, huyện Yên Định để chơi game. Khi đến quán thì Hưng nhìn thấy ở sân trước cửa quán có dựng 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha màu xanh đen bạc, biển kiểm soát 36B8 – 489.78 là xe thuộc sở hữu của anh Nguyễn Văn H, sinh năm 2006 ở thôn P, xã Đ, huyện Yên Định. Lúc này, Hưng thấy tại ổ khóa điện của xe đang cắm chìa khóa nên nảy sinh ý định trộm cắp. Sau đó Hưng nói và chỉ cho Nghĩa biết về chiếc xe trên. Hưng và Nghĩa đi vào quán chơi game được khoảng 15 phút, Nghĩa bảo Hưng ra xem chìa khóa còn cắm ở ổ khóa xe nữa hay không. Hưng đồng ý ra kiểm tra và nói cho Nghĩa biết chiếc xe vẫn có chìa khóa cắm ở ổ khóa. Lúc này Nghĩa và Hưng trả tiền chơi game rồi đi ra khu vực trước cửa quán, quan sát xung quanh không có người để ý, Nghĩa bảo Hưng “lại lấy cái xe đi”, Hưng đồng ý. Hưng tiến lại mở chìa khóa điện và nổ máy, Nghĩa lên xe và ngồi phía sau. Hưng điều khiển xe chở Nghĩa đi lên xã Yên Trường, huyện Yên Định đến một cửa hàng cắt tóc (không nhớ tên cửa hàng là gì) để cầm cố chiếc xe. Tuy nhiên không cầm cố được. Hưng và Nghĩa tiếp tục vào chơi game ở một quán Internet ở xã Yên Trường, huyện Yên Định (không nhớ tên quán là gì). Đến khoảng 15 giờ ngày 24/9/2022, Nghĩa và Hưng đi xe mô tô đã trộm cắp được về nhà Nghĩa ở Khu 1, TT, huyện Yên Định. Nghĩa nói dối bà Lê Thị T, sinh năm 1963, là mẹ của Nghĩa là xe do Nghĩa mượn của một người bạn ở xã Đ, huyện Yên Định, Nghĩa để xe ở nhà và đang gọi người đó đến để lấy. Tuy nhiên bà Tình không thấy ai đến lấy chiếc xe nên ngày 03/10/2022 đã giao nộp cho Công an TT, huyện Yên Định để xử lý theo quy định (BL 217-221, 225-227, 234, 240-241).
Kết quả định giá tài sản xác định, chiếc xe mô tô của anh Nguyễn Văn H nêu trên tại thời điểm bị chiếm đoạt trị giá 12.500.000đ (BL 253).
Kết quả xác minh về tài sản, thu nhập của Hưng, Thái, Tuấn đều không có thu nhập và tài sản gì.
Qúa trình điều tra, Hưng, Thái và Tuấn đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của Hưng, Thái, Tuấn phù hợp với lời khai của người bị hại, người liên quan, người làm chứng, kết quả định giá, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Về vật chứng vụ án: Chị Chu Thị Hồng T (chủ cửa hàng điện thoại Mạnh Linh) đã tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone XS 64GB màu vàng gold đã qua sử dụng; Ngô Ngọc Thiện N đã giao nộp 01 chiếc ốp điện thoại bằng cao su màu hồng, có họa tiết trang trí, đã qua sử dụng; bà Lê Thị T đã giao nộp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha màu xanh đen bạc, biển kiểm soát 36B8 – 489.78, đã qua sử dụng. Sau khi tiến hành định giá tài sản, xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên các tài sản trên đã được trả lại cho bị hại đầy đủ.
Về trách nhiệm dân sự: Qúa trình điều tra, các bị hại đã nhận lại tài sản đầy đủ và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Chị Chu Thị Hồng T yêu cầu trả lại số tiền 5.200.000đ (BL 195, 236, 201, 204)
Qúa trình chuẩn bị xét xử, người đại diện hợp pháp của bị cáo Thái đã bồi thường thiệt hại cho chị Thắm đầy đủ và chị không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại bản cáo trạng số 21/CT-VKSYĐ ngày 03/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định đã truy tố Nguyễn Trung H về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; Cao Hoàng T và Phạm AT về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại Khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Các bị cáo Nguyễn Trung H, Cao Hoàng T và Phạm AT khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo Cao Hoàng T và Phạm AT phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Khoản 1 Điều 173, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điểm g Khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự; Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Khoản 1 Điều 323, Điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự; Đề nghị xử phạt bị cáo Cao Hoàng T từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Khoản 1 Điều 323, Điểm i, s Khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự; Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm AT từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về án phí: Thực hiện theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trung H, Cao Hoàng T và Phạm AT phát biểu quan điểm bào chữa: Thống nhất với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Khoản 1 Điều 173, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điểm g Khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự; Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H từ 08 tháng đến 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Khoản 1 Điều 323, Điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự; Đề nghị xử phạt bị cáo Cao Hoàng T từ 04 tháng đến 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Khoản 1 Điều 323, Điểm i, s Khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự; Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm AT từ 04 tháng đến 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về án phí: Thực hiện theo quy định của pháp luật.
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Trung H có quan điểm: Thống nhất với quan điểm bào chữa của người bào chữa và không có ý kiến gì tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Cao Hoàng T có quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Thái vì khi phạm tội Thái chưa đủ 18 tuổi, thiếu suy nghĩ và trong thời gian bị tạm giam ở vụ án khác đã thấy hối hận về những việc làm sai trái của mình.
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Phạm AT có quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Tuấn vì bị cáo có hoàn cảnh đặc biệt, bố mẹ mất sớm, ở cùng với bà nội nên cũng chưa được sự quan tâm đầy đủ như những đứa trẻ khác.
Trong phần tranh luận: Các bị cáo Hưng, Thái và Tuấn đều nhất trí với quan điểm bào chữa của người bào chữa, người đại diện hợp pháp cho các bị cáo và không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Bị hại anh Nguyễn Văn H và người đại diện hợp pháp của anh Hoan đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý bị cáo Hưng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về tội danh:
Tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo Nguyễn Trung H, Cao Hoàng T và Phạm AT đã hoàn toàn thừa nhận: Trong ngày 25/8/2022 và ngày 23/9/2022, tại TT, huyện Yên Định lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu, Nguyễn Trung H và Ngô Ngọc Thiện N đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 01 chiếc điện thoại Iphone XS 64GB màu vàng gold có ốp lưng bằng cao su màu hồng đã qua sử dụng của anh Nguyễn Hùng T trị giá 4.510.000đ và 01 mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha màu xanh đen bạc, biển kiểm soát 36B8 – 489.78 của anh Nguyễn Văn H trị giá 12.500.000đ. Tổng giá trị tài sản do Hưng và Nghĩa chiếm đoạt được là 17.010.000đ.
Sau khi trộm cắp được chiếc điện thoại Iphone XS 64GB màu vàng gold có ốp lưng bằng cao su màu hồng đã qua sử dụng của anh Nguyễn Hùng T trị giá 4.510.000đ vào ngày 25/8/2022. Cao Hoàng T và Phạm AT mặc dù biết đó là tài sản do trộm cắp mà có nhưng Thái vẫn đồng ý, trực tiếp giao dịch bán chiếc điện thoại, Tuấn tiếp nhận ý chí, đồng tình với việc bán điện thoại và cầm tiền có được từ việc bán điện thoại để chi trả chi tiêu cá nhân cho bản thân và cả nhóm.
Lời khai nhận của các bị cáo Hưng, Thái, Tuấn tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan, người làm chứng, kết luận định giá và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi trộm cắp chiếc điện thoại và xe máy của Nguyễn Trung H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; Bị cáo Cao Hoàng T và Phạm AT cùng nhau tiêu thụ tài sản là chiếc điện thoại do Hưng phạm tội mà có nên đã phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” được quy định tại Khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định truy tố các bị cáo theo tội danh trên, đề nghị HĐXX áp dụng điều luật là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đối với Ngô Ngọc Thiện N là người khởi xướng, rủ Hưng trộm cắp tài sản chiếc điện thoại và cùng Hưng thực hiện trộm cắp chiếc xe máy. Tuy nhiên, tính đến ngày thực hiện hành vi vi phạm pháp luật Ngô Ngọc Thiện N mới 15 tuổi 10 tháng 21 ngày nên theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự thì Nghĩa chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Cơ quan công an đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nghĩa là phù hợp.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:
Đây đều là vụ án trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có có tính chất ít nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ và xâm phạm trật tự, an toàn công cộng. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, trên địa bàn huyện Yên Định đã xảy ra nhiều vụ án liên quan đến độ tuổi vị thành viên phạm tội, nhất là các loại vụ việc gây thương tích, trộm cắp tài sản và tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy. Nguyên nhân dẫn đến việc phạm tội, một phần cũng do thiếu sự quan tâm chăm sóc, giáo dục của cha mẹ. Vì vậy, cần thiết phải lên mức án nghiêm khắc để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Đánh giá vai trò đồng phạm, các bị cáo phạm tội không có sự phân công bàn bạc từ trước nên chỉ là đồng phạm giản đơn. Trong vụ án trộm cắp tài sản, Nghĩa là người khởi xướng việc đi trộm cắp chiếc điện thoại nhưng chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, Hưng thực hiện theo sự chỉ đạo của Nghĩa và thực hiện tội phạm tích cực; còn vụ trộm cắp chiếc xe máy thì Hưng là người khởi xướng, rủ Nghĩa trộm cắp. Trong vụ án tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có thì Thái là người thực hiện tội phạm tích cực, chủ động giao dịch bán điện thoại do phạm tội mà có; Tuấn xếp vai trò sau Thái là phù hợp.
[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Bị cáo Nguyễn Trung H phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, cả hai lần phạm tội của bị cáo đều có tính chất ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo. Đây được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Cao Hoàng T và Phạm AT không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo thành khẩn khai báo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo Thái đã tác động đến gia đình bồi thường thiệt hại cho người liên quan chị Thắm nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điểm b Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo Hưng, Thái, Tuấn đều phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên đều được xem xét áp dụng quy định của người chưa thành niên phạm tội đối với các bị cáo.
Do vậy, căn cứ vào tính chất của vụ án, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tâm sinh lý. Nhưng không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm mà trong quá trình điều tra, truy tố ở vụ án này, các bị cáo lại tiếp tục phạm tội và đều đang bị tạm giam trong vụ án khác do cơ quan điều tra Công an huyện Yên Định khởi tố, bắt tạm giam. Vì vậy, cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để các bị cáo cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều là người chưa thành niên phạm tội, không có tài sản riêng gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[5] Đối với bà Lê Thị T, chị Chu Thị Hồng T và anh Trịnh Quốc D đều không biết là tài sản do bị cáo Hưng trộm cắp mà có nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý là phù hợp.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone XS 64GB màu vàng gold đã qua sử dụng và 01 chiếc ốp điện thoại bằng cao su màu hồng, có họa tiết trang trí, đã qua sử dụng của anh Nguyễn Hùng T; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha màu xanh đen bạc, biển kiểm soát 36B8 – 489.78, đã qua sử dụng của anh Nguyễn Văn H. Xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại đầy đủ là phù hợp.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người liên quan đã nhận đầy đủ tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử miễn xét.
[8] Về án phí: Các bị cáo bị kết án, không thuộc trường hợp được miễn án phí nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173 và Khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trung H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; các bị cáo Cao Hoàng T và Phạm AT phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
2. Về hình phạt:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173, Điểm g Khoản 1 Điều 52, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trung H 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 323, Điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Cao Hoàng T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 323, Điểm i, s Khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Phạm AT 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
3. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Nguyễn Trung H, Cao Hoàng T và Phạm AT mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại anh Hoan và người đại diện hợp pháp được quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Nghĩa và người đại diện được quyền kháng cáo bản án phần liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án phần liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hoá; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND huyện Yên Định; - Công an huyện Yên Định; - Chi cục THADS huyện Yên Định; - Bị cáo, người đại diện hợp pháp và bào chữa cho bị cáo; - Bị hại, người liên quan và người đại diện; - Lưu: hồ sơ, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoa |