vanban.org

Bản án 18/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 10/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Lê Thọ T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Lê Thọ T 54 (Năm mươi tư) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 08/10/2022. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 xe mô tô biển kiểm soát 36R2 – 0585, nhãn hiệu HONDA Wav… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Lê Thọ T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGỌC LẶC
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:18/2023/HS-ST
Ngày: 16 - 5 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Xuân Thành

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Quách Văn Toản

2. Ông Lê Hữu Đại

+ Tại điểm cầu trung tâm: Thư ký phiên tòa: Bà Lê Mỹ Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa

+ Tại điểm cầu thành phần: Bà Ninh Thị Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

+ Tại điểm cầu trung tâm: Bà Hoàng Thị Vân Anh - Kiểm sát viên

+ Tại điểm cầu thành phần: Bà Hoàng Thị Lanh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai (bằng hình thức trực tuyến) vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:11/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 03 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:16/2023/QĐXXST- HS ngày 28 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Lê Thọ T - Sinh ngày 07/10/1972, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: Khu 2, thị trấn T, huyện X, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; giới tính Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 2/12; Con ông: Lê Thọ T (Đã chết) và bà Nguyễn Thị Toàn (đã chết); Có vợ Lương Thị Tiếp; Có 02 con Lớn sinh năm 2010 nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, Tiền sự: không;

Nhân thân:

- Năm 1990 bị TAND tỉnh Thanh Hóa xử phạt 04 năm tù, về tội cố ý gây thương tích và tội trộm cắp tài sản của công dân, tại Bản án số 121/HSST ngày 17/11/1990.

- Năm 1994 bị TAND huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 09 tháng tù, về tội trộm cắp tài sản của công dân, tại Bản án số 25/HSST ngày 28/11/1994.

- Năm 1996 bị TAND tỉnh Khánh Hòa xử phạt 06 năm tù, về tội trộm cắp tài sản của công dân, tại Bản án số 125/HSST ngày 14/11/1996, tổng hợp hình phạt tại Bản án số 638 ngày 23/5/1991 xử phạt 08 năm 05 tháng 11 ngày tù.

- Năm 2004 bị TAND thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 05 năm tù, về tội trộm cắp tài sản, tại Bản án số 19/2004/HSST ngày 12/4/2004.

- Năm 2018 bị TAND huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 39 tháng tù, về tội trộm cắp tài sản, tại Bản án số 08/2018/HSST ngày 09/5/2018, chấp hành xong ngày 24/6/2020.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/10/2022 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Phạm Văn T, sinh năm 1994 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn V, xã Mỹ T, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.

-Người làm chứng:

- Anh Phạm Xuân H, sinh năm 1980 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu 3, thị trấn T, huyện X, tỉnh Thanh Hóa.

- Anh Lê Thọ B, sinh năm 1973 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu 3, thị trấn T, huyện X, tỉnh Thanh Hóa.

- Anh Lê Văn Đ, sinh năm 1980 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố T, thị trấn T, huyện X, tỉnh Thanh Hóa.

- Anh Lê Thọ H, sinh năm 1977 (Có mặt)

Địa chỉ: Khu 2, thị trấn T, huyện X, tỉnh Thanh Hóa.

- Chị Phạm Thị T, sinh năm 1983 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố Nguyễn T, thị trấn N, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.

- Chị Lương Thị T, sinh năm 1980 (Có mặt) Địa chỉ: Khu 2, thị trấn T, huyện X, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 07/10/2022 Lê Thọ T, trú tại khu 2, thị trấn T, huyện X điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36R6 – 0585 đến gia đình Phạm Thị T, ở làng Mới, xã Mỹ T, huyện Ngọc Lặc để dự đám cưới. Sau khi ăn cơm xong trên đường về thấy gia đình anh Phạm Văn T, ở thôn Vải, xã Mỹ T đang tổ chức đám cưới, nên đã nảy sinh việc trộm cắp tài sản, T điều khiển xe mô tô đến Bệnh viện đa khoa khu vực Ngọc Lặc gửi xe ở đó rồi thuê xe Taxi quay lại thôn Vải, xã Mỹ T. Khi gần đến nhà anh T T xuống xe rồi đi bộ đến ẩn nấp ở vườn mía gần nhà anh T để chờ cơ hội đột nhập vào nhà. Đến khoảng 01 giờ, ngày 08/10/2022 quan sát thấy mọi người đã ngủ, T đi vào bên hông nhà dùng tay, chân đẩy cửa vào phòng ngủ của anh T mở tủ quần áo lấy được 01 chiếc túi bên trong chứa phong bì tiền mừng cưới, sau đó mở ngăn kéo bàn trang điểm lấy được 01 chiếc hộp bên trong chứa nhẫn, vòng kiềng bằng vàng. Khi T đang đi ra để tẩu thoát thì bị anh T phát hiện, hô hoán T bỏ chạy ra phía sau nhà theo đường mòn, lên đến đỉnh đồi T xé các phong bì tiền, sắp xếp lại tiền đợi đến khi trời sáng rồi tìm đường ra Quốc lộ 15A thuộc địa phận khu phố Vân Hòa, thị trấn Ngọc Lặc. Sau đó T đi nhờ xe đến Bệnh viện đa khoa khu vực Ngọc Lặc lấy chiếc xe của mình đem tài sản đi cất giấu thì bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Ngọc Lặc phát hiện, thu giữ toàn bộ toàn bộ tài sản để xử lý.

Tại Bản kết luận giám định số 3604/KL-KTHS ngày 20/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận, số tiền 83.240.000 đồng (518 tờ tiền Việt Nam) gửi giám định là tiền thật.

Tại Bản kết luận giám định số 6948/KL-KTHS ngày 24/10/2022 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận.

- 01 vòng đeo tay bằng kim loại màu vàng... gửi giám định có tổng khối lượng 8,15 gam..., phần kim loại đều là vàng (Au); hàm lượng Au trung bình 99,95%.

- 01 kiềng đeo cổ bằng kim loại màu vàng... gửi giám định có tổng khối lượng 27,0 gam..., phần kim loại đều là vàng (Au); hàm lượng Au trung bình 99,66%.

- 05 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng... gửi giám định có tổng khối lượng 11,27 gam đều là vàng (Au); hàm lượng Au trung bình 99,76%.”

Tại Kết luận định giá lại tài sản số 60/KL-HĐĐGTS, ngày 30/11/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Ngọc Lặc kết luận: tổng trị giá tài sản là: 64.855.000 đồng, bao gồm.

- 01 vòng đeo tay bằng vàng..., có tổng khối lượng 8,15 gam, hàm lượng Au (vàng) trung bình: 99,59%. Có giá trị là: 11.385.000 đồng.

- 01 kiềng đeo cổ bằng vàng, có tổng khối lượng 27,0 gam, hàm lượng Au (vàng) trung bình: 99.69%. Có giá trị là: 37.726.000 đồng.

- 05 chiếc nhẫn bằng vàng..., có tổng khối lượng 11,27 gam, hàm lượng Au (vàng) trung bình: 99,76%. Có giá trị là: 15.744.000 đồng.”

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

Thu giữ 01 chiếc túi xách màu nâu; 01 hộp màu cam hình tròn; 01 vòng đeo tay bằng vàng; 01 kiềng đeo cổ bằng vàng; 05 chiếc nhẫn bằng vàng; số tiền 83.240.000 đồng, không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra đã trả lại cho người bị hại anh Phạm Văn T quản lý, sử dụng. Người bị hại không yêu cầu bồi thường gì.

Thu giữ 01 ví da màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA; 01 chứng minh nhân dân; 01 giấy phép lái xe mô tô; số tiền 13.350.000 đồng, không liên quan đến vụ án, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp quản lý, sử dụng.

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36R2 – 0585 (kèm theo đăng ký xe mang tên Lê Văn T) Lê Thọ T sử dụng làm phương tiện phạm tội, chuyển đến Kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc để xét xử và thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Không.

Bản cáo trạng số 10/CT-VKS - NL ngày 27/3/2023 của VKSND huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Lê Thọ T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa Đại diện viện kiểm sát đề nghị hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

- Mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo Lê Thọ T từ 48 (Bốn mươi tám) đến 54 (Năm mươi tư) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 08/10/2022.

- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên đề nghị không xem xét.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu xung quỹ Nhà Nước chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36R2 – 0585 (kèm theo đăng ký xe mang tên Lê Văn T) Lê Thọ T sử dụng làm phương tiện phạm tội.

- Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thống nhất với bản luận tội, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ngọc Lặc, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời trình bày của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 01 giờ ngày 08/10/2022 Lê Thọ T đã thực hiện hành vi lén lút vào gia đình anh Phạm Văn T, ở thôn Vải, xã Mỹ T, huyện Ngọc Lặc trộm cắp gồm: 01 vòng đeo tay bằng vàng; 01 kiềng đeo cổ bằng vàng; 05 nhẫn bằng vàng; số tiền 83.240.000 đồng, tổng giá trị tài sản là 148.095.000 đồng, cấu thành tội trộm cắp tài sản, quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, hành vi phạm tội: Đây là vụ án trộm cắp tài sản có tính chất nghiêm trọng do Lê Thọ T thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, làm mất trật tự trị an, xã hội trên địa bàn.

Về T tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhân thân của bị cáo: Bị cáo phạm tội không có T tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có 01 T tiết giảm nhẹ là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo là người có nhân thân xấu đó là: Năm 1990 bị TAND tỉnh Thanh Hóa xử phạt 04 năm tù, về tội cố ý gây thương tích và tội trộm cắp tài sản của công dân, tại Bản án số 121/HSST ngày 17/11/1990. Năm 1994 bị TAND huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 09 tháng tù, về tội trộm cắp tài sản của công dân, tại Bản án số 25/HSST ngày 28/11/1994. Năm 1996 bị TAND tỉnh Khánh Hòa xử phạt 06 năm tù, về tội trộm cắp tài sản của công dân, tại Bản án số 125/HSST ngày 14/11/1996, tổng hợp hình phạt tại Bản án số 638 ngày 23/5/1991 xử phạt 08 năm 05 tháng 11 ngày tù. Năm 2004 bị TAND thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 05 năm tù, về tội trộm cắp tài sản, tại Bản án số 19/2004/HSST ngày 12/4/2004. Năm 2018 bị TAND huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 39 tháng tù, về tội trộm cắp tài sản, tại Bản án số 08/2018/HSST ngày 09/5/2018, chấp hành xong ngày 24/6/2020.

Với các T tiết và nhân thân nêu trên chứng tỏ bị cáo là người không có ý thức cải tạo thành người công dân tốt, tỏ T độ coi thường pháp luật. Do đó hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe giáo dục bị cáo sửa chữa lỗi lầm, để bị cáo thấy được tính nghiêm minh của pháp luật, cải tạo thành người công dân có ích cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan CSĐT Công an huyện Ngọc Lặc đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp cho người bị hại, người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

Cần tịch thu xung quỹ Nhà Nước 01 xe mô tô biển kiểm soát 36R6 – 0585 (Kèm theo đăng ký xe mô tô) là phương tiện, công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thì bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Do đó, HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Thọ T.

- Tuyên bố: Lê Thọ T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt: Lê Thọ T 54 (Năm mươi tư) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 08/10/2022.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 xe mô tô biển kiểm soát 36R2 – 0585, nhãn hiệu HONDA Wave RSX, màu sơn: Đỏ - Đen - Bạc số máy 43E5007988. 01 Đăng ký xe mô tô số 016006 của xe mô tô biển kiểm soát 36R2 – 0585.

Vật chứng được chuyển đến kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc để xét xử và thi hành án (Theo phiếu nhập kho số NK 2023/012 ngày 29 tháng 3 năm 2023 và lệnh nhập kho số NK 2023/012 ngày 29 tháng 3 năm 2023 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc)

- Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 136; 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Lê Thọ T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo vắng mặt người bị hại tại phiên tòa. Tuyên bố bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự

Cỡ chữ