vanban.org

Bản án 18/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên Tuyên án 22/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn c vào điểm c khoản 2 Điều 173, Điều 38, Điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 47 BLHS; Điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban th ờng vụ Quốc hội quy định …

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lý Tòn S phạm tội "Trộm cắp tài sản". Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lý Tòn S: 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 08 tháng 12 năm 2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Tòn San - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Căn c vào điểm c khoản 2 Điều 173, Điều 38, Điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 47 BLHS; Điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban th ờng vụ Quốc hội quy định …
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƯỜNG NHÉ
TỈNH ĐIỆN BIÊN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2023/HS-ST
Ngày 22-02-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Giàng A Bách

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vi Văn Thuy

2. Ông S m Văn N ng

- Thư ký phiên tòa: Bà Đao Thị Bích Thảo - Th ký Tòa án nhân dân huyện M ờng Nhé, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Tòng Văn Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M ờng Nhé, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử số: 18/2023/QĐXXST - HS ngày 10 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Lý Tòn S sinh ngày 13 tháng 9 năm 2000 tại xã Lý Bôn, huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao B ng. Nơi c trú: Bản Hu i Thanh 1, xã N m Kè, huyện M ờng Nhé, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Kiếm T (sinh năm 1962) và con bà Đ ng Mùi M (Sinh năm 1979); Bị cáo Lý Tòn S có v là Tr n Mùi V (sinh năm 2005) và ch a có con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ch a bị Tòa án xét xử, ch a bị xử lý vi phạm hành chính. Bị cáo Lý Tòn S bắt tạm giữ từ ngày 08 tháng 12 năm 2022 đến ngày 14 tháng 12 năm 2022, tạm giam từ ngày 14 tháng 12 năm 2022 đến nay. Có m t tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Lý Tòn S: Bà Mai Thị Thanh Liêm – Tr giúp viên pháp lý của Trung tâm tr giúp pháp lý Nhà n ớc tỉnh Điện Biên tham gia tố tụng. Có m t tại phiên tòa.

- Bị h i: Anh S n Văn Mắn, sinh năm 1985. Nơi c trú: Bản Hu i Thanh 1, xã N m Kè, huyện M ờng Nhé, tỉnh Điện Biên. Có m t tại phiên tòa.

- Người có quy n l i; nghĩa v liên quan:

+ Bà Bùi Thị Lựu. Sinh năm 1980. Nơi đăng ký hộ khẩu th ờng trú: Bản M ờng Nhé Mới, xã M ờng Nhé, huyện M ờng Nhé, tỉnh Điện Biên. Ch ở hiện nay: Bản M ờng Toong 1, xã M ờng Toong, huyện M ờng Nhé, tỉnh Điện Biên. Vắng m t có lý do (có đơn xin xét xử vắng m t);

+ Chị Phạm Thị Tuyến, sinh năm 1993. Nơi c trú: Bản M ờng Toong 1, xã M ờng Toong, huyện M ờng Nhé, tỉnh Điện Biên. Vắng m t có lý do (có đơn xin xét xử vắng m t). -

- Người có nghĩa v liên quan:

+ Cháu Tẩn Phù Quang, sinh năm 2007. Nơi c trú: Bản Hu i Thanh 1, xã N m Kè, huyện M ờng Nhé, tỉnh Điện Biên. Vắng m t có lý do (có đơn xin xét xử vắng m t);

+ Đại diện h p pháp của cháu Tẩn Phù Quang: Ông Tẩn D u Phu (là bố đ của Tẩn Phù Quang), sinh năm 1981 và bà Phùng Lở Mẩy (là m đ của cháu Tẩn Phù Quang). Cùng nơi c trú tại: Bản Hu i Thanh 1, xã N m Kè, huyện M ờng Nhé, tỉnh Điện Biên. Ông Tẩn D u Phu và bà Phùng Lở Mẩy đều vắng m t có lý do chính đáng (có đơn xin xét xử vắng m t).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đ c tóm tắt nh sau:

Khoảng 8 giờ ngày 04 tháng 12 năm 2022, Lý Tòn S cùng v là Tr n Mùi Viển đi bộ từ nhà ở bản Hu i Thanh 1, xã N m Kè, huyện M ờng Nhé, tỉnh Điện Biên đến nhà c u nguyện nhóm B thuộc bản Hu i Thanh 1 để c u nguyện. Sau khi ngồi c u nguyện đ c khoảng 10 phút thì Lý Tòn S đi ra ngoài. Vì biết nhà ông S n Văn Mắn là ng ời cùng bản Hu i Thanh 1 có nhiều tiền, th ờng cho bà con trong bản vay nên Lý Tòn S nảy sinh ý định đi đến nhà ông S n Văn Mắn để trộm cắp tài sản. Khoảng 8 giờ 30 phút cùng ngày, Lý Tòn S đến nhà ông S n Văn Mắn, sau khi quan xung quanh không có ai nên Lý Tòn S đã trèo qua hàng rào tr ớc nhà vào trong sân. San dùng tay mở c ng phía trong rồi đi theo c u thang lên nhà sàn nh ng cửa khóa nên S không vào đ c. San nhìn th y phía nhà bếp có ô thoáng g n mái nhà có thể chui vào đ c nên đã b ớc từ c u thang sang nhà bếp, tay nắm vào thanh xà và kéo ng ời đu lên xà nhà, chui vào ô thoáng đi vào trong bếp. S đi vào gian nhà chính tìm th y 05 (năm) tờ tiền mệnh giá 100.000 (Một trăm nghìn đồng) đựng trong chiếc ví màu đen treo trên cột nhà, S l y tiền cho vào túi qu n sau bên phải đang m c rồi tiếp tục tìm kiếm và th y 01 (Một) chiếc két sắt hãng Việt Tiệp màu xanh ở g n đó. S đi ra nhà bếp l y 01 (Một) con dao nh n b ng kim loại, cán nhựa màu nâu đ , dài khoảng 36 cm ở trên tủ đựng bát đũa, dùng mũi dao c y vào ph n d ới cánh cửa của két sắt làm cho cánh cửa hở ra. S tiếp tục tìm và l y chiếc lục lăng sáu cạnh b ng sắt dài khoảng 14 cm trong hộp sửa chữa g n vị trí cửa từ bếp đi vào nhà ở để chèn vào khe hở két sắt, rồi l y dao nh n cạy mạnh khoảng ba, bốn l n làm cho cánh cửa két sắt bung mở ra. San th y ở trong két sắt có một t p tiền loại mệnh giá 100.000 (Một trăm nghìn) đồng, S l y ra đếm đ c 3.000.000 (Ba triệu) đồng và c t tiền vào túi qu n sau bên phải đang m c. San tiếp tục dùng dao cạy vào mép d ới của ngăn trong két sắt làm cho cánh cửa ngăn trong bung mở ra thì nhìn th y 01 (Một) t p tiền mệnh giá 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng đ c buộc b ng dây cao su, S l y t p tiền c t vào túi qu n tr ớc bên phải đang m c. Trên đ ờng đi về, S l y t p tiền mệnh giá 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng ra đếm thì t ng số tiền là 50.000.000 (Năm mư i tri u) đồng. Khi về đến nhà, S l y 7.000.000 (B y tri u) đồng trong t p tiền mệnh giá 500.000 đồng và l y 2.400.000 (Hai triệu bốn trăm nghìn), trong t p tiền mệnh giá 100.000 đồng t ng là 9.400.000 (Chín tri u b n trăm nghìn) đồng để đi mua sắm. Số tiền còn lại là 44.100.000 (Bốn m ơi bốn triệu một trăm nghìn) đồng S b vào 01 (Một) chiếc phong bì ghi chữ Ngân hàng th ơng mại c ph n đ u t và phát triển Việt Nam rồi đem đi c t gi u ở khe vách g nhà vệ sinh của gia đình. Khi S chuẩn bị đi mua sắm thì có cháu Tẩn Phù Quang là ng ời cùng bản đến chơi nên S đã rủ Quang đi ch cùng và Quang đồng ý. San l y xe máy của anh trai là Lý Tòn Nh chở Quang đi từ nhà ở bản Hu i Thanh 1 ra trung tâm xã M ờng Toong. S đến cửa hàng điện máy Khái Tuyến của chị Phạm Thị Tuyến mua 01 (một) chiếc điện thoại cảm ng nhãn hiệu Redmi Note 10S, 01 (Một) đôi tai nghe Bluetooth, 01 (Một) chiếc sim điện thoại Mobiphone, 01 (một) chiếc th cào nạp điện thoại mạng VinaPhone hết t ng số tiền là 5.170.000 (Năm triệu một trăm bảy m ơi nghìn) đồng. S chở Quang đến cửa hàng bán qu n áo của chị Bùi Thị Lựu mua 01 (một) bộ qu n áo thể thao có ghi chữ Adidas với số tiền 250.000 (Hai trăm năm m ơi nghìn đồng). Rồi S chở Quang đi ăn uống và mua đồ dùng sinh hoạt gia đình, chi tiêu hết toàn bộ số tiền mang theo. Đến 14 giờ 30 phút, anh S n Văn Mắn phát hiện két sắt bị cạy phá và m t hết số tiền 53.500.000 (Năm m ơi ba triệu năm trăm nghìn) đồng nên đã đến trình báo với Công an xã N m Kè. Ngày 08/12/2022 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M ờng Nhé đã tiến hành khám xét, thu giữ tại nhà vệ sinh của gia đình Lý Tòn S số tiền 44.100.000 (Bốn m ơi bốn triệu một trăm nghìn) đồng mà San đã c t gi u, đồng thời tiến hành bắt tạm giữ Lý Tòn S đề điều tra làm rõ vụ việc.

Ngày 16/12/2022 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện M ờng Nhé ban hành Kết lu n định giá tài sản số 10/KL-HĐGTS, kết lu n : Giá chiếc két sắt hãng Việt Tiệp màu xanh mà Lý Tòn S làm h h ng khi trộm cắp có giá tà 325.000 (Ba trăm hai mư i lăm nghìn) đồng.

Tại bản Kết lu n giám định số 31/KL-KTHS ngày 20 tháng 12 năm 2022 của Phòng K thu t hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết lu n: Số tiền thu giữ tại nhà của Lý Tòn S gồm 86 (Tám m ơi sáu) tờ tiền mệnh giá 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng và 11 (M ời một) tờ tiền mệnh giá 100.000 (Một trăm nghìn) đồng là tiền th t.

Trong quá trình điều tra, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M ờng Nhé đã tạm thu giữ: 01 (Một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Redmi Note 10S có kèm sim điện thoại mạng Vinaphone đã qua sử dụng; 01 (Một) đôi tai nghe Bluetooth đã qua sử dụng; 01 (Một) bộ qu n áo thể thao màu đen, ghi nhãn hiệu adidas đã qua sử dụng. Đồng thời thu hồi số tiền 5.170.000 (Năm triệu một trăm bảy m ơi nghìn) đồng từ chị Phạm Thị Tuyến, số tiền 250.000 (Hai trăm năm m ơi nghìn) đồng từ chị Bùi Thị Lựu. Qua xác minh làm rõ đã trả lại 01 (Một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Redmi Note 10S có kèm sim điện thoại mạng Vinaphone đã qua sử dụng; 01 (Một) đôi tai nghe Bluetooth đã qua sử dụng cho chủ sở hữu h p pháp là chị Phạm Thị Tuyến, trả lại 01 (Một) bộ qu n áo thể thao màu đen, ghi nhãn hiệu adidas đã qua sử dụng cho chị Bùi Thị Lựu.

Bị cáo Lý Tòn S đã tự nguyện nộp cho cơ quan điều tra số tiền 3.980.000 (Ba tri u chín trăm tám mư i nghìn) đồng để khắc phục h u quả, trả lại cho bị hại. Đồng thời tự nguyện bồi th ờng thiệt hại do làm h h ng chiếc két sắt, số tiền 325.000 (Ba trăm hai m ơi lăm nghìn) đồng cho bị hại. Ngày 30 tháng 12 năm 2022 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M ờng Nhé đã tiến hành trả lại số tiền là 53.500.000 đồng bị trộm cắp và số tiền 325.000 đồng tiền bồi th ờng két sắt h h ng cho anh S n Văn Mắn.

Bản cáo trạng số: 06/CT-VKS-MN ngày 13 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M ờng Nhé đã truy tố Lý Tòn S để xét xử về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ lu t Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát trình bày lời lu n tội giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173 BLHS; Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Xử phạt bị cáo Lý Tòn S từ 02 (hai) năm tù đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Không áp dụng hình phạt b sung theo quy định tại khoản 5 Điều 173 BLHS đối với bị cáo; Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS trả lại tài sản cho chủ sở hữu h p pháp theo quy định. Áp dụng Điều 136 BLTTHS, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Ng ời bào chữa cho bị cáo Lý Tòn S không có ý kiến tranh lu n về tội danh, điều lu t mà Viện kiểm sát đã truy tố cũng nh ph n lu n tội của Kiểm sát viên, đồng thời không có ý kiến khiếu nại về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng. Đề nghị HĐXX xem xét đến điều kiện sinh sống của bị cáo dẫn đến nh n th c pháp lu t có ph n hạn chế; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội đồng thời cũng đã tự nguyện khắc phục h u quả. Ng ời bào chữa đề nghị HĐXX áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54 BLHS, xem xét xử phạt cho bị cáo Lý Tòn S d ới khung hình phạt; đề nghị không áp dụng khoản 5 Điều 173 BLHS về hình phạt b sung đối với bị cáo. Về án phí, đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nh n toàn bộ hành vi phạm tội, nh t trí với nội dung truy tố trong Cáo trạng và lời lu n tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo Lý Tòn S nh t trí với lời bào chữa và không có ý kiến b sung; không có ý kiến khiếu nại về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng.

Bị hại S n Văn Mắn đề nghị xử lý trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định của pháp lu t. Về trách nhiệm dân sự, anh Mắn đã nh n lại toàn bộ số tiền 53.500.000 (Năm m ơi ba triệu năm trăm nghìn) đồng và số tiền 325.000 đồng tiền làm h h ng két sắt, không đề nghị gì thêm.

Những ng ời có quyền l i; nghĩa vụ liên quan là chị Phạm Thị Tuyến, bà Bùi Thị Lựu đều vắng m t tại phiên tòa. Theo lời khai có trong hồ sơ vụ án và trong đơn xin xét xử vắng m t thể hiện: Chị Phạm Thị Tuyến, Bùi Thị Lựu không biết số tiền mà Lý Tòn San đã mua sắm hàng hóa là tiền do trộm cắp mà có. Các chị đã nh n lại tài sản mà Lý Tòn S mua đồng thời cũng trả lại toàn bộ số tiền Lý Tòn S sử dụng để mua hàng hóa cho cơ quan điều tra để trả lại cho bị hại. Các chị không có đề nghị gì thêm.

Ng ời có nghĩa vụ liên quan Tẩn Phù Quang và đại diện h p pháp đều vắng m t tại phiên tòa. Theo lời khai có trong hồ sơ vụ án và trong đơn xét xử vắng m t Cháu Tẩn Phù Quang và đại diện h p pháp cùng có ý kiến: Cháu Quang không biết việc Lý Tòn S thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

Lời sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX xem xét, giảm nh hình phạt cho bị cáo với lý do hoàn cảnh gia đình khó khăn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đ c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n định nh sau:

Xét hành vi phạm tội bị cáo th y: Lời khai nh n tại phiên tòa phù h p với các ch ng c , tài liệu đã thu th p có trong hồ sơ vụ án, th y r ng đã có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 08 giờ ngày 04 tháng 12 năm 2022 Lý Tòn S đã có hành vi lén lút vào nhà của anh S n Văn Mắn, lục l i ví tiền và c y phá két sắt chiếm đoạt t ng số tiền 53.500.000 (Năm m ơi ba triệu năm trăm nghìn đồng), mục đích là l y tiền tiêu xài cá nhân. Do đó HĐXX có đủ căn c kết lu n bị cáo Lý Tòn San đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 BLHS.

Việc VKSND huyện M ờng Nhé truy tố bị cáo Lý Tòn San về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 BLHS là đúng ng ời, đúng tội, có căn c pháp lu t, bị cáo không bị oan sai.

Xét về tính ch t, m c độ, hành vi phạm tội bị cáo th y: Đây là vụ án nghiêm tr ng xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân đ c pháp lu t bảo hộ. Bị cáo là ng ời có đ y đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ trộm cắp tài sản là vi phạm pháp lu t nh ng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu tài sản của công dân; gây ảnh h ởng x u đến tr t tự an toàn xã hội. Nh v y c n xử lý bị cáo với m c hình phạt th a đáng, phù h p với tính ch t, m c độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng n ng, giảm nh trách nhiệm hình sự bị cáo th y: Bị cáo Lý Tòn S là ng ời có nhân thân tốt, ch a từng bị Tòa án xét xử, ch a từng bị xử lý vi phạm hành chính. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng nh tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, tự nguyện bồi th ờng thiệt hại và khắc phục h u quả cho bị hại. Do đó bị cáo có 02 (Hai) tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự đ c quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 BLHS.

Từ tính ch t, m c độ hành vi phạm tội, nhân thân và những tình tiết tăng n ng, giảm nh trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét th y c n áp dụng một hình phạt th a đáng để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Lý Tòn S từ 02 (hai) năm tù đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Xét th y đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn c , phù h p với tính ch t, m c độ hành vi phạm tội của bị cáo nên c n xem xét xử phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Ng ời bào chữa đề nghị HĐXX áp dụng theo điểm b, s khoản 1 Điều 51BLHS có căn c áp dụng; Áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS xử phạt d ới khung hình phạt. HĐXX xét th y việc đề nghị của ng ời bào chữa là không phù h p nên không đ c ch p nh n.

Về hình phạt b sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ lu t hình sự: “Người ph m tội còn có thể bị ph t ti n từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét th y bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, th ờng trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đ c biệt khó khăn. Do đó Hội đồng xét xử ch p nh n đề nghị của Viện Kiểm sát, ng ời bào chữa về việc không áp dụng hình phạt b sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với ý kiến của bị hại anh S n Văn Mắn đề nghị xử lý trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định của pháp lu t. Về trách nhiệm dân sự, anh Mắn đã nh n lại toàn bộ số tiền 53.500.000 (Năm m ơi ba triệu năm trăm nghìn) đồng và số tiền 325.000 đồng làm h ng két sắt; không đề nghị gì thêm. HĐXX ch p nh n ý kiến trên.

Đối với ng ời có quyền l i, nghĩa vụ liên quan:

Trong quá trình điều tra đã xác minh làm rõ chị Phạm Thị Tuyến, Bùi Thị Lựu không biết số tiền mà Lý Tòn S dùng để mua sắm là tài sản trộm cắp. Chị Tuyến, chị Lựu đều đã trả lại tiền và nh n lại tài sản đã bán, đồng thời không yêu c u bị cáo bồi th ờng, không có đề nghị gì thêm. HĐXX c n ch p nh n những ý kiến trên.

Đối với ng ời có nghĩa vụ liên quan Tẩn Phù Quang: Khi đ c rủ đi mua sắm Quang không biết việc S trộm cắp số tiền của anh S n Văn Mắn nên không đ t v n đề xử lý trách nhiệm.

Về xử lý v t ch ng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS. Trả lại 01 (Một) chiếc két sắt hãng Việt tiệp màu xanh đã qua sử dụng và bị h h ng; 01 (Một) chiếc phong bì Ngân hàng đ u t phát triển đã đ c niêm phong; 01 (một) con dao nh n cán nhựa màu nâu đ , 01 (Một) chiếc lục lăng sáu cạnh cho chủ sở hữu h p pháp là anh S n Văn Mắn.

Về án phí: Xét th y bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, th ờng trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đ c biệt khó khăn. Ngày 17 tháng 02 năm 2023 bị cáo Lý Tòn S đã có đơn đề nghị miễn án phí. Căn c điểm đ khoản 1 Điều 12, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ờng vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; HĐXX quyết định miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên, Viện kiểm sát; Kiểm sát viên, ng ời bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều đã thực hiện theo đúng quy định của Bộ lu t tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, ng ời bào chữa không khiếu nại ho c ý kiến gì. Nh v y các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, những ng ời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều h p pháp.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn c vào điểm c khoản 2 Điều 173, Điều 38, Điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 47 BLHS; Điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban th ờng vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lý Tòn S phạm tội "Trộm cắp tài sản".

2.Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lý Tòn S: 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 08 tháng 12 năm 2022.

3.Về vật chứng vụ án: Trả lại 01 (Một) chiếc két sắt hãng Việt tiệp màu xanh đã qua sử dụng và bị h h ng; 01 (Một) chiếc phong bì Ngân hàng đ u t phát triển đã đ c niêm phong; 01 (một) con dao nh n cán nhựa màu nâu đ , 01 (Một) chiếc lục lăng sáu cạnh cho chủ sở hữu h p pháp là anh S n Văn Mắn.Theo biên bản giao nh n v t ch ng ngày 16 tháng 01 năm 2023 giữa Công an huyện M ờng Nhé và Chi cục Thi hành án dân sự huyện M ờng Nhé.

4. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

5.Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lý Tòn S; bị hại S n Văn Mắn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 22 tháng 02 năm 2023). Ng ời có quyền l i, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án; quyết định của Tòa án liên quan đến quyền l i, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nh n đ c bản án ho c niêm yết công khai.

Cỡ chữ