- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn Thương - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN TỈNH HOÀ BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2023/HS-ST Ngày: 27-04-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN - TỈNH HOÀ BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Văn Ơn;
Ông Bùi Văn Thiệu.
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Bùi Văn Hường- Thư ký Toà án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên toà: Ông Trần Tú Giang- Kiểm sát viên sơ cấp thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
Ngày 27/04/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 03 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 03 năm 2023 đối với bị cáo:
Bùi Văn T, sinh ngày 24/06/2002 tại: xã Quý Hoà, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Nơi cư trú: xóm Thêu, xã Quý Hoà, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình; trình độ văn hóa (học vấn) 09/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Liến, sinh năm 1978 và bà Bùi Thị Thu, sinh năm 1980; Vợ, con chưa có; Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/11/2022 tại Trại tạm giam số 1- Công an thành phố Hà Nội. Có mặt.
- Bị hại:
+ Bùi Văn B, sinh năm 1984. Địa chỉ: phố Mường Vôi, thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt;
+ Bùi Văn Đ, sinh năm 2003. Địa chỉ: xóm Vẹ, xã Quý Hoà, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt;
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1995. Địa chỉ: phố Thống Nhất, thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt;
+ Bùi Văn D, sinh năm 1991. Địa chỉ: phố Beo, thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt;
+ Trịnh Văn V, sinh năm 1976. Địa chỉ: phố Độc Lập, thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt;
+ Lê Đức M, sinh năm 1981. Địa chỉ: Địa chỉ: phố Độc Lập, thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.
- Người làm chứng: Bùi Thành N, sinh năm 2001. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 16 giờ ngày 24/10/2022, Bùi Văn Bảy, gọi điện thoại rủ Bùi Văn T đi chơi. Thương bảo không có xe nên Bảy điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại SUPERDREAM, biển kiểm soát 28F8 - 6610 lên nhà đón Thương. Sau đó, Bảy và Thương đi xuống quán lẩu tại xóm Khả, xã Quý Hòa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình để ăn cơm. Tại đây, Bảy có gọi điện thoại rủ Bùi Văn Hoàn xuống cùng ngồi uống rượu đến khoảng 20 giờ cùng ngày. Sau khi uống rượu xong, Bảy, Thương và Hoàn đi xuống khu vực thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn chơi. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, cả ba đi đến quán ăn đêm ở phố Thống Nhất, thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình để ăn đêm. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, khi đang ăn Thương nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô BKS 28F8 - 6610 của Bảy để lấy tiền tiêu xài cá nhân nên đã nói với Bảy là “anh ơi ngày mai nhà em có việc, anh cho em mượn xe em về ngày mai em còn đi gánh lúa với nhà em, trong ngày mai em trả xe”. Do tin tưởng Thương nên Bảy đã cho Thương mượn xe. Sau đó, Thương lấy xe của Bảy đi về trước, còn Bảy ngồi ăn đêm với Hoàn. Đến ngày 26/10/2022, Thương điều khiển xe mô tô BKS 28F8 – 6610 xuống khu vực phố Thống Nhất, thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn để tìm người mua xe mô tô trên. Khi xuống đến phố Thống Nhất, Thương gặp Nguyễn Ngọc Tú và đặt vấn đề do cần tiền nên muốn bán xe, Tú đồng ý mua. Thương nói dối Tú là do đi vội quá nên quên mang đăng ký xe và đề nghị Tú cho vay tạm 1.700.000đ (Một triệu bảy trăm nghìn đồng) để về lấy đăng ký xe rồi xuống làm thủ tục mua bán. Tú đồng ý và đưa cho Thương số tiền 1.700.000đ (Một triệu bảy trăm nghìn đồng). Thương để lại chiếc xe mô tô BKS 28F8 – 6610 cho Tú. Số tiền trên Thương đã sử dụng để tiêu xài cá nhân hết.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 60/KL-HĐĐGTS ngày 01/12/2022, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, UBND huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình, kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại SUPPER DREAM, màu sơn: Nâu, mang biển kiểm soát 28F8-6610, xe cũ đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm định giá là: 24.500.000đ (Hai mươi bốn triệu, năm trăm nghìn đồng).
Vụ thứ 2: Vào khoảng 12 giờ ngày 29/10/2022, Thương gọi điện thoại cho Bùi Văn Đạt và bảo Đạt lên nhà đón Thương đi xuống Chợ Vó, xã Nhân Nghĩa, huyện Lạc Sơn để trả nợ. Đạt điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại WAVEα, màu sơn Xanh - Đen - Bạc không gắn biển kiểm soát đến đón Thương. Sau đó, hai người xuống Chợ Vó, xã Nhân Nghĩa, huyện Lạc Sơn nhưng do không có chủ nợ ở nhà nên Thương nhờ Đạt chở xuống thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn có việc. Đạt đồng ý, Thương chở Đạt xuống đến cổng chợ thuộc phố Độc Lập, thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn thì Thương nói Đạt xuống ngồi đợi. Thương điều khiển xe mô tô của Đạt đi chơi ở thị trấn Vụ Bản đến khoảng 15 giờ 30 phút thì Thương quay lại đón Đạt để đi về. Sau khi về đến Trạm Y tế xã Yên Phú, huyện Lạc Sơn, Thương nói Đạt quay lại thị trấn Vụ Bản có việc. Khi quay lại đến cổng chợ Vụ Bản thuộc phố Độc Lập, thị trấn Vụ Bản thì Thương nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô của Đạt nên Thương nói với Đạt là xuống xe để Thương mượn xe đi có việc, Đạt đồng ý. Sau đó, Thương điều khiển xe mô tô của Đạt xuống khu vực phố Lốc Mới, thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn. Tại đây, Thương gặp Bùi Văn Dựng và đặt vấn đề muốn bán xe nhưng do đi vội quá nên quên mang đăng ký xe. Dựng đồng ý mua nên Thương bảo Dựng cho tạm ứng trước 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) để về lấy đăng ký xe sau đó sẽ xuống để làm thủ tục mua bán xe. Dựng đồng ý và đưa cho Thương 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Sau khi nhận số tiền trên, Thương đã sử dụng để tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 21/11/2022, sau khi biết Thương mang xe của mình đi bán, Đạt đã tìm Dựng để mua lại chiếc xe mô tô mà Dựng đã mua được của Thương vào ngày 29/10/2022 với giá 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 59/KL-HĐĐGTS ngày 01/12/2022, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, UBND huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình, kết luận: chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE α, màu sơn: Xanh - đen - bạc, không gắn biển số, xe cũ đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm định giá là: 14.500.000đ (Mười bốn triệu, năm trăm nghìn đồng).
Quá trình điều tra, Bùi Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, phù hợp với các tài liệu, vật chứng đã thu giữ được.
Tại bản cáo trạng số: 09/CT-VKS, ngày 06/03/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình truy tố Bùi Văn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Thực hành quyền công tố tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 55, Điều 56 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Văn T từ 27 đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình hạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với Nguyễn Ngọc Tú, là người đã mua lại chiếc xe mô tô từ Bùi Văn T: Do khi mua Tú không biết chiếc xe mô tô BKS 28F8 – 6610 là tài sản do Thương phạm tội mà có nên không có căn cứ để xử lý, đề nghị HĐXX không xem xét.
Đối với Bùi Văn Dựng là người mua lại chiếc xe mô tô từ Bùi Văn T: Do khi mua Dựng không biết chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại WAVE α, không gắn biển số là tài sản do Thương phạm tội mà có nên không có căn cứ để xử lý đề nghị HĐXX không xem xét.
Về trách nhiệm dân sự:
Đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết:
- Nguyễn Ngọc Tú yêu cầu Bùi Văn T hoàn trả số tiền 1.700.000đ (Một triệu, bảy trăm nghìn đồng) là số tiền Nguyễn Ngọc Tú đã đưa cho Bùi Văn T để giữ lại xe mô tô BKS 28F8-6610. Hiện nay bị cáo chưa bồi thường.
- Bùi Văn Đạt yêu cầu Bùi Văn T bồi thường số tiền 1.500.000đ (Một triệu, năm trăm nghìn đồng) là số tiền Bùi Văn Đạt đã bỏ ra để lấy lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE α, không gắn biển số từ Bùi Văn Dựng. Hiện nay bị cáo chưa bồi thường.
Về vật chứng:
- Đối với 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu: HONDA, số loại: SUPERDREAM, màu sơn: Nâu, mang biển số: 28F8- 6610, không có gương chiếu hậu. Xe cũ, đã qua sử dụng (kèm theo chìa khoá xe), Nguyễn Ngọc Tú đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra. Xác định chiếc xe mô tô trên thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Bùi Văn Bảy. Ngày 12/01/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình, ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại chiếc xe mô tô trên cho chủ sở hữu hợp pháp là Bùi Văn Bảy theo quy định của pháp luật. Việc xử lý vật chứng nêu trên phù hợp Điều 106 BLTTHS đề nghị HĐXX không xem xét xử lý.
- Bùi Văn Đạt, sinh năm 2003, trú tại xóm Vẹ – Quý Hòa - Lạc Sơn - Hòa Bình, đã tự nguyện giao nộp: 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu: HONDA, số loại: WAVE α, màu sơn: Xanh – đen – bạc, không gắn biển số, không có gương chiếu hậu. Xe cũ, đã qua sử dụng (Kèm theo chìa khoá xe). Xác định chiếc xe mô tô trên thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Bùi Văn Đạt. Ngày 05/01/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình ra Quyết định xử lý vật bằng hình thức trả lại chiếc xe mô tô trên cho chủ sở hữu hợp pháp là Bùi Văn Đạt theo quy định của pháp luật. Việc xử lý vật chứng nêu trên phù hợp Điều 106 BLTTHS đề nghị HĐXX không xem xét xử lý.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là: Bùi Văn Dựng, Trịnh Văn Vinh, Lê Đức Mạnh không có yêu cầu gì.
Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn và không có ý kiến tranh luận, không có lời bào chữa.
Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về hành vi phạm tội:
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; lời khai bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; người làm chứng; kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 22 giờ ngày 24/10/2022, Bùi Văn T nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản nên nói dối là mượn của Bùi Văn Bảy chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại SUPERDREAM, BKS 28F8 -6610 trị giá 24.500.000đ (Hai mươi bốn triệu, năm trăm nghìn đồng) và sau đó đem bán cho Nguyễn Ngọc Tú với giá 1.700.000đ (một triệu bảy trăm nghìn đồng) để tiêu xài cá nhân.
Ngày 29/10/2022, Bùi Văn T tiếp tục nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản nên nói mượn của Bùi văn Đạt xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại WAVE α, màu sơn Xanh – Đen – Bạc, không gắn biển số, trị giá 14.500.000đ (Mười bốn triệu, năm trăm nghìn đồng) và sau đó đem bán cho Bùi Văn Dựng với giá 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) để tiêu xài cá nhân.
Hành vi nêu trên của bị cáo Thương là nguy hiểm cho xã hội, tính chất của tội phạm là nghiêm trọng đủ yêu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tính chất của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu của người khác gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức rõ sự nguy hiểm của hành vi của mình gây ra nhưng vẫn cố tình thực hiện. Do đó, cần phải có hình thức xử lý phù hợp đề thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm cho bị cáo trong quá trình lượng hình.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo thực hiện tội phạm 02 lần trở lên thoả mãn quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, ngày 18/11/2022 bị cáo còn thực hiện hành vi “Mua bán trái phép chất ma tuý” và bị Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội xét xử 27 tháng tù theo bản án hình sự sơ thẩm số: 31/2023/HS-ST ngày 24/03/2023.
Về hình phạt chính:
Căn cứ vào hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo; Căn cứ tiền án, tiền sự, nhân thân của bị cáo; Căn cứ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo HĐXX xét thấy cần phải áp dụng hình phạt nghiệm khắc cách ly xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung:
Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số thuộc diện kinh tế khó khăn, bản thân không có nghề nghiệp ổn định. HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự. Điều 48 Bộ luật hình sự Bùi Văn T phải có trách nhiệm:
- Trả cho anh Nguyễn Ngọc Tú số tiền 1.700.000đ (Một triệu, bảy trăm nghìn đồng) là số tiền anh Tú đã đưa cho Bùi Văn T để giữ lại xe mô tô BKS 28F8-6610;
- Trả cho anh Bùi Văn Đạt số tiền 1.500.000đ (Một triệu, năm trăm nghìn đồng) là số tiền anh Đạt đã bỏ ra để lấy lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE α, không gắn biển số từ Bùi Văn Dựng.
Về vật chứng:
- Đối với 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu: HONDA, số loại: SUPERDREAM, màu sơn: Nâu, mang biển số: 28F8- 6610, không có gương chiếu hậu. Xe cũ, đã qua sử dụng (kèm theo chìa khoá xe) thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Bùi Văn Bảy). Ngày 12/01/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình, ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là Bùi Văn Bảy. Việc xử lý vật chứng nêu trên phù hợp Điều 106 BLTTHS nên HĐXX chấp nhận và không xem.
- Đối với 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu: HONDA, số loại: WAVE α, màu sơn: Xanh – đen – bạc, không gắn biển số, không có gương chiếu hậu. Xe cũ, đã qua sử dụng (Kèm theo chìa khoá xe), thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Bùi Văn Đạt. Ngày 05/01/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình ra Quyết định xử lý vật bằng hình thức trả lại chiếc xe trên cho chủ sở hữu hợp pháp là Bùi Văn Đạt. Việc xử lý vật chứng nêu trên phù hợp Điều 106 BLTTHS nên HĐXX chấp nhận và không xem xét.
Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát:
Chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt đối với bị cáo và các vấn đề khác.
Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định các Điêu 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ khoản 1 Điều 174; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 55; Điều 56 Bộ luật Hình sự.
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Về mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 27 (Hai mươi bảy) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 27 (Hai mươi bảy) tháng tù tại bản án hình sự sơ thẩm số: 31/2023/HS-ST ngày 24/03/2023 của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 4 (Bốn) năm 6 (Sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam- Ngày 18/11/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự. Điều 48 Bộ luật hình sự, Bùi Văn T phải có trách nhiệm:
- Trả cho anh Nguyễn Ngọc Tú số tiền 1.700.000đ (Một triệu, bảy trăm nghìn đồng) là số tiền anh Tú đã đưa cho Bùi Văn T để giữ lại xe mô tô BKS 28F8-6610;
- Trả cho anh Bùi Văn Đạt số tiền 1.500.000đ (Một triệu, năm trăm nghìn đồng) là số tiền anh Đạt đã bỏ ra để lấy lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVEα, không gắn biển số từ Bùi Văn Dựng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thi hành theo quy định tại Điều 357; Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Tổng cộng, bị cáo phải chịu 500.000đ án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Hình sự: bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án hoặc trích lục bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai tại nơi cư trú của họ.
Hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hòa Bình; - VKSND tỉnh Hòa Bình; - Sở tư pháp tỉnh Hòa Bình; - VKSND huyện Lạc Sơn; - CCTHADS huyện Lạc Sơn; - Công an huyện Lạc Sơn; - Trại tạm giam số 1- Công an tp Hà Nội; - UBND xã Quý Hoà; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hồng |