vanban.org

Bản án 18/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 22/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Về tộ i danh:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễ n Huy H phạm tội “Cướ p tà i sả n”. [2]. Về điề u luậ t á p dụ ng và mứ c hì nh phạ t: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội cướp tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Về tộ i danh:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 168 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG ANA
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2023/HS-ST
Ngày 22-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Văn Thành.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thế Chiến, ông Vũ Kim Quy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễ n Thị Phương Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Ana.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana tham gia phiên tòa: Ông Nguyễ n Công Thứ c - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Ana, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 15/2023/TLST-HS ngày 29/5/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2023/QĐXXST-HS ngày 09/6/2023 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Nguyễ n Huy H; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không;

Sinh ngày: 21/01/2001 tại huyệ n K, tỉnh Đắk Lắk;

Nơi thường trú: Thôn A, xã D, huyệ n K, tỉnh Đắk Lắk;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao độ ng tự do;

Tiền án, tiền sự: Không;

Con ông Nguyễ n Duy H , sinh năm 1969 và bà Uông Thị T , sinh năm 1977; Bị cáo chưa có vợ, con.

Bị cáo bị bắttạm giữ, tạm giam từ ngày20/3/2023, có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Ông Nguyễ n Văn M , sinh năm 1982; đị a chỉ : Thôn A , xã D , huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

- Ngườ i có quyề n lợ i, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Nguyễ n Duy H, sinh năm 1969;

Đị a chỉ : Thôn A, xã D, huyệ n K, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

- Người làm chứng:

+ Anh Nguyễ n Anh H, sinh năm 1986;

+ Anh Nguyễ n Duy T, sinh năm 1975;

Cùng địa chỉ: Thôn A, xã D, huyệ n K, tỉnh Đắk Lắk.

(Tấ t cả ngườ i là m chứ ng vắ ng mặ t)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào đêm ngày 15/3/2023, Nguyễn Huy H đi đến nhà nghỉ Q tại số X đường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk thuê phòng nghỉ và chơi Internet. Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 17/3/2023, H đi bộ từ nhà nghỉ về nhà tại thôn A, xã D, huyện K để xin tiền bố mẹ. Đến khoảng 03 giờ, sáng ngày 18/3/2023, H về đến nhà, sợ bố mẹ trách mắng nên H không vào nhà mà ngồi ngoài vườn tiêu. Lúc này, H nảy sinh ra ý định đột nhập vào nhà Nguyễn Văn M (chú ruột H) để trộm cắp tài sản (tiền). H đi bộ ra phía sau nhà anh M, đi vào cửa bên hông nhà, do cửa không khóa nên H mở cửa đi vào bên trong tìm tiền để lấy. Khi vào bên trong, H thấy ông M đang nằm ngủ trên giường, trong màn. Khi đó, H lấy chiếc điện thoại Nokia trắng đen (gắn 02 sim điện thoại số 0346703147 và số 0336208085) của H ra bật đèn pin để rọi, khi đến gần giường thì thấy anh M trở người động đậy nên H lấy con dao (loại dao T), cán màu vàng, mũi nhọn từ trong túi H đang đeo trên người với mục đích là đe doạ anh M để lấy tiền. Trong lúc H đang lục tìm tài sản xung quanh đầu giường thì anh M tỉnh dậy và hô lên “Cướp, cướp”; nghe vậy, tay phải H cầm dao chỉ về phía anh M và nói “Im không tao đâm” để anh M im lặng cho H tiếp tục tìm tiền. Tuy nhiên anh M vẫn hô lớn “Cướp, cướp” nên H nhảy lên giường, dùng đầu gối và tay tỳ đè vào hông và chân của anh M, tay phải cầm dao dí vào trước mặt anh M (H ở bên ngoài màn, còn anh M nằm trong màn). Thấy vậy, anh M dùng hai chân đạp vào người H làm H bị rơi điện thoại, H dí dao về phía anh M. Khi đó, anh M đưa hai tay lên chống trả thì bị H cầm dao đâm về phía hai tay của anh M gây thương tích. Rồi anh M dùng tay trái nắm được vào lưỡi dao, tay phải nắm vào cổ tay của H giữ lại và bẻ cong phần lưỡi dao, anh M co hai chân lên đạp vào người H làm H bị ngã xuống giường. Sau đó, H bỏ chạy ra phía sau vườn nhà anh M rồi chạy về vườn tiêu ở phía sau nhà H. Thấy lưỡi dao bị cong nên H dùng tay bẻ lại cho thẳng thì làm lưỡi dao bị gãy khỏi cán dao, H ném con dao này vào dưới gốc tiêu và trốn tại đây. Sau khi H bỏ chạy, anh M lấy điện thoại gọi cho người thân đến và đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện đa khoa vùng T. Đến khuya ngày 18/3/2023, H đi vào nhà lấy chiếc xe máy, loại xe Win nhãn hiệu Sufat, biển số 47M9-7520 của H chạy về nhà nghỉ Q và nghỉ lại tại đây. Sau đó, H bị Cơ quan Cảnh sát điều tra đưa về làm việc. Tại cơ quan điều tra H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại bản Kết luận giám định số 118/KLTTCT-PY ngày 17/4/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn M tại thời điểm giám định là 10%.

Về việc thu giữ, tạm giữ đồ, vật tài liệu:

Trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk đã tiến hành khám nghiệm hiện trường thu giữ: 01 điện thoại loại di động mang nhãn hiệu Nokia 105 màu đen, bên trong gắn 2 sim điện thoại số 0346703147 và số 0336208085; 01 chiếc màn màu tím - trắng đã rách, dính dấu vết nghi là máu; 01 dao quắm cán bằng tre dài 44cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 24cm, rộng 3,5cm, mũi dao quắm; 01 dao, loại dao T, dài 21,5cm, cán dao bằng nhựa, màu vàng, lưỡi dao bằng kim loại dài 11,5cm, rộng 02cm, mũi nhọn và 01 dấu vết nghi là máu; Thu giữ tại vườn của ông Nguyễn Duy H, phía sau hiện trường vụ án: 01 con dao, loại dao T có cán bằng nhựa màu vàng, dài 10,5cm, lưỡi dao bằng kim loại, mũi dao nhọn, dài 11,5cm, có một lưỡi cắt (lưỡi dao đã bị gãy rời ra khỏi cán dao) đây là hung khí mà Nguyễn Huy H dùng để tấn công người bị hại.

Thu giữ của Nguyễn Huy H: 01 áo khoác (loại áo phao), mặt trước bên trái của áo có dấu vết nghi là máu; 01 quần Jean màu đen; 01 áo thun, tay ngắn, màu trắng; 01 (một) mũ lưỡi trai, màu đen; 01 xe máy loại xe Win nhãn hiệu Sufat, biển kiểm soát 47M9-7520.

- Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, gia đì nh bị cá o H đã tự nguyệ n bồ i thườ ng cho bị ông Nguyễ n Văn M số tiề n 15.000.000 đồ ng và bị hạ i không yêu cầ u bị cáo bồ i thườ ng gì thêm.

Tại Cáo trạng số 15/CT-VKS-HS, ngày 29/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk truy tố bị cáo Nguyễ n Huy H về tội “Cướ p tà i sả n” theo quy đị nh tạ i điể m d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễ n Huy H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng. Bị cáo thừa nhận việc cướ p tà i sả n và ông Nguyễ n Văn M bị thương tích là do lỗi của bị cáo gây ra. Gia đì nh bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại số tiền điề u trị thương tích và bị hại đã có đơn bãi nại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cá o.

Quá trình tranh luận tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyệ n Krông Ana đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễ n Huy H về tội “Cướ p tà i sả n”. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điể m d khoản 2 Điều 168; điểm b, s, h khoản 1, 2 Điều 51, Điề u 54 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo Nguyễ n Huy H từ 05 năm tù đế n 06 năm tù.

* Các biện pháp tư pháp:

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 47, 48 Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Trả lại cho ông Nguyễ n Duy H 01 chiếc xe máy loại xe Win nhãn hiệu Sufat, biển kiểm soát 47M9-7520 là tài sản thuộc sở hữu của ông Nguyễn Duy H không liên quan đến việc phạm tội.

+ Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện loại di động mang nhãn hiệu Nokia 105 màu đen, bên trong gắn 2 sim điện thoại số 0346703147 và số 0336208085 là tài sản của Nguyễn Huy H liên quan đến việc phạm tội.

+ Tịch thu tiêu hủy 01 con dao, loại dao T có cán bằng nhựa màu vàng, dài 10,5cm, lưỡi dao bằng kim loại, mũi dao nhọn, dài 11,5cm, có một lưỡi cắt (lưỡi dao đã bị gãy rời ra khỏi cán dao) đây là hung khí mà Nguyễn Huy H dùng để tấn công người bị hại.

+ Tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác (loại áo phao), mặt trước bên trái của áo có dấu vết nghi là máu; 01 quần Jean màu đen; 01 áo thun, tay ngắn, màu trắng; 01 (một) mũ lưỡi trai, màu đen là trang phục Nguyễn Huy H mặc vào đêm thực hiện hành vi phạm tội nhưng không còn giá trị sử dụng.

+ Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc màn màu tím - trắng đã rách là tà i sả n củ a ông Nguyễ n Văn M không cò n giá trị sử dụ ng.

+ Trả lại cho ông Nguyễ n Văn M 01 dao quắm cán bằng tre dài 44cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 24cm, rộng 3,5cm, mũi dao quắm; 01 dao, loại dao T, dài 21,5cm, cán dao bằng nhựa, màu vàng, lưỡi dao bằng kim loại dài 11,5cm, rộng 02cm, mũi nhọn là tài sản thuộ c sở hữ u của Nguyễn Văn M không liên quan đế n việ c phạ m tộ i.

- Về trá ch nhiệ m dân sự :

Căn cứ Điề u 585, Điề u 589 Bộ luậ t dân sự : Công nhậ n gia đì nh bị cá o đã bồ i thườ ng cho bị hạ i ông Nguyễ n Văn M số tiề n 15.000.000 đồ ng và bị hạ i không yêu cầ u bị cáo bồi thường gì thêm.

- Bị cáo Nguyễ n Huy H không có ý kiến tranh luận gì, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình. Kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo đượ c hưở ng mứ c á n nhẹ nhấ t, sớ m trở về gia đì nh lao độ ng chăm lo gia đì nh, là công dân có í ch cho xã hộ i.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Krông Ana, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

. Về thủ tục tố tụng: Người là m chứ ng đã đượ c Tò a á n triệ u tậ p hợ p lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm không có lý do. Xét thấy việc vắng mặt của nhữ ng người này không ảnh hưởng đến việc xét xử, vì trong quá trình điều tra họ đã cung cấp lời khai, căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

. Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở để kết luận: Do ý thức coi thường luật pháp nên vào khoảng 3 giờ, ngày 18/3/2023, tại thôn A, xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Nguyễn Huy H đã có hành vi dùng dao T là hung khí nguy hiểm tấn công ông Nguyễn Văn M để chiếm đoạt tài sản thì bị ông M chống trả quyết liệt nên Nguyễn Huy H đã bỏ chạy. Hậu quả ông M bị H gây thương tích 10%.

. Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana truy tố bị cáo Nguyễ n Huy H về tội “Cướ p tà i sả n” theo quy định tại điể m d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

“Điều 168 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:…

d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;”

Xét hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễ n Huy H là rấ t nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo không những trực tiếp xâm hại đến sức khoẻ và tài sản của ông Nguyễ n Văn M một cách trái pháp luật mà còn gây mất trật tự trị an trong xã hội huyệ n K nói chung và địa bàn xã D nói riêng. Bị cáo là người đã trưởng thành hoàn toàn nhận thức được sức khỏe, tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm trái pháp luật đến sức khỏe, tài sản của người khác đều bị pháp luật nghiêm trị. Thế nhưng, do ý thức coi thường pháp luật, bị cáo đã dùng loại dao T tấ n công ông Nguyễ n Văn M để chiế m đoạ t tà i sả n thì bị ông M chố ng trả nên bị cá o bỏ chạy, hậ u quả ông M bị thương tích 10%. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình gây ra. Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo với mức hình phạt nghiêm khắc, có như vậy mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung trong toàn xã hội.

Đối vớ i hành vi Nguyễn Huy H dùng dao tấn công ông Nguyễn Văn M gây thương tích 10% đã thu hú t và là dấ u hiệ u đị nh khung tộ i cướ p tà i sả n quy đị nh tạ i khoản 1 Điề u 168 Bộ luậ t hì nh sự .

. Các tình tiết tăng nặ ng, giảm nhẹ:

- Về tì nh tiế t tăng nặ ng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

- Về tì nh tiế t giả m nhẹ : Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễ n Huy H đã khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có thái độ ăn năn, hố i cả i; bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường theo yêu cầ u củ a bị hạ i và đượ c bị hạ i là m đơn bã i nạ i xin giả m nhẹ hì nh phạ t cho bị cáo; đồ ng thờ i gia đì nh bị cáo có công cá ch mạng là ông ngoạ i đượ c thưởng Huân chương chiế n sĩ vẻ vang , huy chương khá ng chiế n . Vì vậy, khi quyết định hình phạt đố i vớ i bị cáo Nguyễ n Huy H cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để thể hiện chính sách khoan hồ ng, nhân đạo của pháp luật.

Thiết nghĩ cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành con người có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, có nhân thân tốt. Hội đồng xét xử xét thấy cấn áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.

. Các biện pháp tư pháp:

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 47, 48 Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Trả lại cho ông Nguyễ n Duy H 01 chiếc xe máy loại xe Win nhãn hiệu Sufat, biển kiểm soát 47M9-7520 là tài sản thuộc sở hữu của ông Nguyễn Duy H không liên quan đến việc phạm tội.

+ Tịch thu bán phát mại sung công quỹ Nhà nướ c 01 điện loại di động mang nhãn hiệu Nokia 105 màu đen, bên trong gắn 2 sim điện thoại số 0346703147 và số 0336208085 là tài sản của Nguyễn Huy H liên quan đến việc phạm tội.

+ Tịch thu tiêu hủy 01 con dao, loại dao T có cán bằng nhựa màu vàng, dài 10,5cm, lưỡi dao bằng kim loại, mũi dao nhọn, dài 11,5cm, có một lưỡi cắt (lưỡi dao đã bị gãy rời ra khỏi cán dao) đây là hung khí mà Nguyễn Huy H dùng để tấn công người bị hại.

+ Tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác (loại áo phao), mặt trước bên trái của áo có dấu vết nghi là máu; 01 quần Jean màu đen; 01 áo thun, tay ngắn, màu trắng; 01 (một) mũ lưỡi trai, màu đen là trang phục Nguyễn Huy H mặc vào đêm thực hiện hành vi phạm tội nhưng không còn giá trị sử dụng.

+ Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc màn màu tím - trắng đã rách là tài sản của ông Nguyễ n Văn M không cò n giá trị sử dụ ng.

+ Trả lại cho ông Nguyễ n Văn M 01 dao quắm cán bằng tre dài 44cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 24cm, rộng 3,5cm, mũi dao quắm; 01 dao, loại dao T, dài 21,5cm, cán dao bằng nhựa, màu vàng, lưỡi dao bằng kim loại dài 11,5cm, rộng 02cm, mũi nhọn là tài sản thuộ c sở hữ u của Nguyễn Văn M không liên quan đế n việ c phạ m tộ i.

- Về trá ch nhiệ m dân sự :

Căn cứ Điề u 585, Điề u 589 Bộ luậ t dân sự : Công nhậ n gia đì nh bị cá o đã bồ i thườ ng cho bị hạ i ông Nguyễ n Văn M số tiề n 15.000.000 đồ ng và bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

. Về án phí: Bị cáo Nguyễ n Huy H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy đị nh phá p luậ t.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Về tộ i danh:

- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự.

- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễ n Huy H phạm tội “Cướ p tà i sả n”.

[2]. Về điề u luậ t á p dụ ng và mứ c hì nh phạ t:

- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điề u 54 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễ n Huy H 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắ t tạm giữ, tạm giam ngày 20/3/2023.

[3]. Các biện pháp tư pháp:

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 47, 48 Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Trả lại cho ông Nguyễ n Duy H 01 chiếc xe máy loại xe Win nhãn hiệu Sufat, biển kiểm soát 47M9-7520 là tài sản thuộc sở hữu của ông Nguyễn Duy H không liên quan đến việc phạm tội.

+ Tịch thu bán phát mại sung công quỹ Nhà nước 01 điện loại di động mang nhãn hiệu Nokia 105 màu đen, bên trong gắn 2 sim điện thoại số 0346703147 và số 0336208085 là tài sản của Nguyễn Huy H liên quan đến việc phạm tội.

+ Tịch thu tiêu hủy 01 con dao, loại dao T có cán bằng nhựa màu vàng, dài 10,5cm, lưỡi dao bằng kim loại, mũi dao nhọn, dài 11,5cm, có một lưỡi cắt (lưỡi dao đã bị gãy rời ra khỏi cán dao) đây là hung khí mà Nguyễn Huy H dùng để tấn công người bị hại.

+ Tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác (loại áo phao), mặt trước bên trái của áo có dấu vết nghi là máu; 01 quần Jean màu đen; 01 áo thun, tay ngắn, màu trắng; 01 (một) mũ lưỡi trai, màu đen là trang phục Nguyễn Huy H mặc vào đêm thực hiện hành vi phạm tội nhưng không còn giá trị sử dụng.

+ Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc màn màu tím - trắng đã rách là tà i sả n củ a ông Nguyễ n Văn M không cò n giá trị sử dụ ng.

+ Trả lại cho ông Nguyễ n Văn M 01 dao quắm cán bằng tre dài 44cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 24cm, rộng 3,5cm, mũi dao quắm; 01 dao, loại dao T, dài 21,5cm, cán dao bằng nhựa, màu vàng, lưỡi dao bằng kim loại dài 11,5cm, rộng 02cm, mũi nhọn là tài sản thuộ c sở hữ u của Nguyễn Văn M không liên quan đế n việ c phạ m tộ i.

- Về trá ch nhiệ m dân sự :

Căn cứ Điề u 585, Điề u 589 Bộ luậ t dân sự : Công nhậ n gia đì nh bị cá o đã bồ i thườ ng cho bị hạ i ông Nguyễ n Văn M số tiề n 15.000.000 đồ ng và bị hạ i không yêu cầ u bị cáo bồi thường gì thêm.

[4]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễ n Huy H phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ