vanban.org

Bản án 18/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 05/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tuyên bố: Phan Công H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Phan Công H 01 (một) năm 01 (một) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam (15/11/2022). 2/ Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Công H trộm cắp - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố: Phan Công H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC LINH
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2023/HS-ST
Ngày: 05-4-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Thuận.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Bình;

2. Bà Lê Thị Kiều Hương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Sang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh tham gia phiên tòa: Ông Đinh Công Quảng - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Phan Công H, sinh năm 1993 tại Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu phố 4, thị trấn Đ, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận; Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Không; Tiền án: Ngày 27/11//2019, Phan Công H bị Tòa án nhân dân huyện Đức Linh xử phạt 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 17/02/2021, chưa được xóa án tích; Tiền sự: Không; con ông Phan U, sinh năm 1972 và con bà Bùi Thị H1, sinh năm 1975, cùng trú tại tổ 6, khu phố 4, thị trấn Đ, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận; Gia đình có 02 anh em, Phan Công H là con lớn trong gia đình.

Bị cáo bị bắt ngày 15/11/2022, hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam theo Quyết định tạm giam số 09/2023/HSST-QĐTG ngày 03/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận. (có mặt tại phiên tòa)

- Bị hại:

1/ Bà Nguyễn Thị Bích Tr, sinh năm 1994; Nơi cư trú: Thôn 8, xã Dt, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

2/ Bà Nguyễn Thị Bích Tr1, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Thôn 8, xã Dt, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Bùi Thị H1, sinh năm 1975; Nơi cư trú: Tổ 6, khu phố 4, thị trấn Đ, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 00 ngày 31/12/2021, Phan Công H, sinh năm 1993, trú khu phố 4, thị trấn Đ, huyện Đức Linh đến khu vực rẫy ông Võ Thành D1, sinh năm 1974 thuộc khu phố 3, thị trấn Đ, huyện Đức Linh để chích cá, H thấy trong chòi giữ rẫy của ông D1 có đèn điện nên đi vào thì thấy cửa chòi không khóa, trong chòi lúc này có bà Nguyễn Thị Bích Tr, sinh năm 1994 và bà Nguyễn Thị Bích Tr1, sinh năm 1997 cùng trú thôn 8, xã Dt, huyện Đức Linh nằm ngũ trên giường. Phan Công H đi vào trong chòi lấy: 01 điện thoại Iphone XSMAX 128Gb và 01 điện thoại di động hiệu Iphone XSMAX 64Gb của bà Tr đang sạc pin trên giường ngũ; Lấy 01 giỏ xách bên trong có giấy tờ tùy thân: 01 giấy phép lái xe, 01 đăng ký xe mô tô biển số 86B8 – 359.11, 01 thẻ căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị Bích Tr1; Lấy 01 giỏ xách bên trong có các giấy tờ tùy thân: 01 thẻ căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe, 02 thẻ ATM ngân hàng BIDV, 01 thẻ ATM ngân hàng MB bank, 01 đăng ký xe mô tô biển số 86B – 243.48, 01 giấy mua bán vàng Kim Hiền (pho to) mang tên Nguyễn Thị Bích Tr. Sau khi lấy tài sản H đi ra ngoài lục tìm tài sản trong giỏ xách của bà Tr1 nhưng không có chỉ có một số giấy tờ tùy thân. H ném giỏ xách cùng giấy tờ tùy thân của bà Tr1 vào hàng rào gần chòi ông D1. Khi đi cách chòi ông D1 khoảng 100m, H tiếp tục lục tìm tài sản trong giỏ xách bà Tr nhưng không có tài sản chỉ có một số giấy tờ tùy thân và 48.000 đồng để phía sau ốp lưng điện thoại của bà Tr. H ném giỏ xách cùng giấy tờ tùy thân của bà Tr rồi mang số tài sản trộm cắp được về nhà.

Khoảng 05 giờ ngày 31/12/2021, ông Võ Thanh Cường, sinh năm 1984 là cậu ruột của Tr và Tr1 gọi điện vào 01 trong 02 số điện thoại mà H trộm cắp thì H trả lời là 02 điện thoại và giấy tờ tùy thân mang tên Nguyễn Thị Bích Tr và Nguyễn Thị Bích Tr1 là do H mua lại của người khác, muốn chuộc lại thì mang 20.000.000 đồng. Ông Cường đồng ý. H quay lại khu vực rẫy ông D1 lấy giỏ xách có giấy tờ tùy thân của bà Tr mang về nhà

Khoảng 17 giờ ngày 31/12/2021, bị cáo H liên lạc với ông Võ Thanh Cường chỉ địa điểm giao tài sản và tiền chuộc tài sản tại khu vực vườn cao su thuộc khu phố 3, thị trấn Đ, huyện Đức Linh. Sau đó H mang 02 điện thoại và các giấy tờ tùy thân của bà Tr, để dưới 01 gốc cây điều trong khu vực vườn cao su ở khu phố 3, thị trấn Đ và H đứng cách ví trí để tài sản khoảng 30m quan sát và dùng điện thoại hướng dẫn ông Cường đến vị trí để tài sản và nói sau khi lấy tài sản thì để tiền chuộc tại vị trí để tài sản. Khi người nhà của Tr, Tr1 đến vị trí H chỉ dẫn lấy tài sản rồi giả vờ bỏ đi thì H đến để lấy tiền thì ông Võ Thanh Cường chạy xe máy đến H bỏ chạy và bị ông Cường rượt bắt lại, H và ông Cường giằng co nhau, H vùng ra chạy thoát, khi bỏ chạy H để lại một giỏ xách màu đen bên trong có giấy tờ tùy thân của bà Tr; 01 xe mô tô 86B8 – 55409, 01 ví da màu đen bên trong có giấy tờ mang tên Phan Công H và số tiền 2.864.000 đồng. Ông Cường đến Công an thị trấn Đ và giao nộp toàn bộ số tài sản, giấy tờ trên. 02 ngày sau qua tìm kiếm ông Cường phát hiện: 01 điện thoại Iphone XSMAX 128Gb, 01 điện thoại di động hiệu Iphone XSMAX 64Gb của bà Tr trong 01 bịch ni lon tại khu vực rẫy cao su thuộc khu phố 3, thị trấn Đ và mang giao nộp cho Công an thị trấn Đ.

Theo lời khai của bà Tr và bà Tr1 thì số tài sản bị mất trong đêm 31/12/2021 ngoài 01 điện thoại Iphone XSMAX 128Gb và 01 điện thoại di động hiệu Iphone XSMAX 64Gb ra thì còn mất: 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG A 5 màu xanh; 01 đồng hồ đeo tay hiệu Apple Watch; 01 lắc tay bạch kim trọng lượng 3,54 chỉ; 01 đôi hoa tai bạch kim trọng lượng 1,13 chỉ và 26.000.000 đồng tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 12 ngày 10/3/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đức Linh kết luận tổng giá trị tài sản của bà Tr, bà Tr1 bị mất ngày 31/12/2021 là: 33.756.000 đồng. Trong đó, giá trị 01 điện thoại di động hiệu Iphone XSMAX 128Gb và 01 điện thoại di động hiệu Iphone XSMAX 64Gb là 16.000.000 đồng.

Tại cáo trạng số 17/CT-VKSĐL-HS, ngày 21 tháng 02 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh truy tố bị cáo Phan Công H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, bị cáo Phan Công H khai nhận hành vi lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Iphone XSMAX 128Gb, 01 hiệu Iphone XSMAX 64Gb và 48.000 đồng bà Nguyễn Thị Bích Tr, đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố. Sau khi sự việc xảy ra, mẹ của bị cáo đã tự nguyện bồi thường theo yêu cầu của bị hại.

Bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt, không yêu cầu bồi thường thiệt hại và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo Phan Công H và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Phan Công H mức án từ 15 đến 18 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phan Công H đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy đủ cơ sở để kết luận: Nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu cá nhân, lợi dụng khoảng thời gian nghỉ ngơi của người dân, Phan Công H đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của bà Nguyễn Thị Bích Tr và Nguyễn Thị Bích Tr1, cụ thể: Vào khoản 01 giờ ngày 31/12/2021 tại căn nhà tạm trong rẫy của ông Võ Thành D1 thuộc khu phố 3, thị trấn Đ, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận, Phan Công H đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 điện thoại Iphone XSMAX 128Gb và 01 điện thoại di động hiệu Iphone XSMAX 64Gb, số tiền 48.000 đồng của bà Tr và một số giấy tờ tùy thân của bà Tr, bà Tr1. Đến khoản 17 giờ ngày 31/12/2021, Phan Công H đem tài sản trộm cắp đến tại khu vực vườn cao su thuộc khu phố 3, thị trấn Đ, huyện Đức Linh cho bà Tr và bà Tr1 chuộc lại thì bị ông Võ Thanh Cường rượt bắt lại, H và ông Cường giằng co nhau, H vùng ra chạy thoát, khi bỏ chạy H để lại một giỏ xách màu đen bên trong có giấy tờ tùy thân của bà Tr; 01 xe mô tô 86B8 – 554.09, 01 ví da màu đen bên trong có giấy tờ mang tên Phan Công H và số tiền 2.864.000 đồng. Ông Cường đến Công an thị trấn Đ và giao nộp toàn bộ số tài sản, giấy tờ trên. 02 ngày sau qua tìm kiếm ông Cường phát hiện: 01 điện thoại Iphone XSMAX 128Gb, 01 điện thoại di động hiệu Iphone XSMAX 64Gb của bà Tr trong 01 bịch ni lon tại khu vực rẫy cao su thuộc khu phố 3, thị trấn Đ và mang giao nộp cho Công an thị trấn Đ.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 12 ngày 10/3/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đức Linh kết luận 01 điện thoại di động hiệu Iphone XSMAX 128Gb và 01 điện thoại di động hiệu Iphone XSMAX 64Gb có giá trị là 16.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, bị hại còn khai mất 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG A5 màu xanh; 01 đồng hồ đeo tay hiệu Apple Watch; 01 lắc tay bạch kim trọng lượng 3,54 chỉ; 01 đôi hoa tai bạch kim trọng lượng 1,13 chỉ và 26.000.000 đồng tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam; tuy nhiên, bị hại không cung cấp được chứng cứ chứng minh thiệt hại về các tài sản nêu trên và cơ quan điều tra cũng không thu thập được chứng cứ chứng minh bị cáo đã chiếm đoạt các tài sản nêu trên. Do đó, không có căn cứ chứng minh bị cáo H đã chiếm đoạt các tài sản nêu trên.

Như vậy, giá trị tài sản mà bị cáo H đã chiếm đoạt làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là 16.048.000 đồng.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh truy tố Phan Công H về tội “trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội; bị cáo là công dân có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, là thanh niên có sức khỏe để tự lao động tạo ra thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình, bị cáo ý thức được hành vi trộm cắp là vi phạm pháp luật; tuy nhiên, với bản tính tham lam, vì mục đích muốn nhanh chóng có tiền để tiêu xài cá nhận mà không mất công sức lao động, bị cáo đã lợi dụng đêm khuya và cố ý thực hiện đến cùng hành vi trộm cắp tài sản của người khác, đây là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân, gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân trong việc quản lý tài sản của mình, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây bức xúc trong dư luận, do đó cần áp dụng mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi và H quả do các bị cáo gây ra, để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân lương thiện; đồng thời, nhằm đấu tranh và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tính tiết giảm nhẹ: Nhận thấy, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại cho các bị hại và các bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, bị hại đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; do dó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Về tình tiết tăng nặng: Ngày 27/11//2019, Phan Công H bị Tòa án nhân dân huyện Đức Linh xử phạt 02 năm tù về tội cố ý gây thương tích, chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/02/2021, chưa xóa án tích mà tiếp tục phạm tội; do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết tặng nặng là tái phạm được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng. Tuy nhiên, nghề nghiệp của bị cáo không ổn định, do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Việc trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Về xử lý vật chứng:

- Toàn bộ giấy tờ tùy thân của bà Tr, bà Tr1; 01 điện thoại di động hiệu Iphone XSMAX 128Gb và 01 điện thoại di động hiệu Iphone XSMAX 64Gb của bà Tr, bà Tr1; 01 xe mô tô 86B8 – 554.09 của Phan Tấn Tài; 01 ví da bên trong có số tiền 2.864.000 đồng, các giấy tờ tùy thân của H; 01 điện thoại di động hiệu NOKIA, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Đức Linh đã trả lại cho các chủ sở hữu là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về mức hình phạt chính áp dụng đối với bị cáo là nặng, chưa tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội và H quả của hành vi phạm tội, cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được áp dụng; do đó, Hội đồng xét xử quyết định mức phạt chính đối với bị cáo dưới mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị đối với bị cáo; đối với những đề nghị khác của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với những nhận nêu trên nên được chấp nhận.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đức Linh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

1/ Tuyên bố: Phan Công H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Phan Công H 01 (một) năm 01 (một) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam (15/11/2022).

2/ Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Phan Công H phải nộp số tiền 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm. Án phí nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh.

4/ Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Báo cho bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, để Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ