vanban.org

Bản án 18/2023/HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Ch, xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ch được ly hôn anh Nguyễn Trường G. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Trường V, sinh ngày 27/7/2008 cho chị Nguyễn Thị Ch trực tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Ch xin ly hôn anh Nguyễn Trường G"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Ch, xử:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN PHONG
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2023/HNGĐ-ST
Ngày 24/8/2023
V/v: T/c HN&GĐ giữa chị Ch và
anh G.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Chu Minh Nam.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Long; Bà Nguyễn Thị Hà.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Tuấn, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hằng, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 46/2023/TLST-HNGĐ, ngày 14 tháng 3 năm 2023 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 14 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ch, sinh năm 1973 (có mặt).

Trú tại: Thôn N, xã T, huyện YP, tỉnh Bắc Ninh.

Bị đơn: Anh Nguyễn Trường G, sinh năm 1972 (vắng mặt).

Trú tại: Thôn N, xã T, huyện YP, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo tại Toà án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Ch trình bày: Chị kết hôn với anh Nguyễn Trường G ngày ngày 25/12/1993, trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tam G, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Cưới xong vợ chồng chị về chung sống với nhau tại thôn Như Nguyệt, xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

Vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh G hay chơi bời, cờ bạc, trai gái, không quan tâm đến vợ con và hay đánh đập, chửi bới chị, xúc phạm gia đình nhà bố mẹ đẻ của chị. Do vợ chồng chung sống với nhau không hạnh phúc nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2015. Nay chị thấy không thể tiếp tục chung sống với anh G được vì vợ chồng không còn tình cảm với nhau từ lâu, chị đề nghị được ly hôn với anh G.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Nguyễn Thị Tr, sinh ngày 24/10/1995; Nguyễn Giang N, sinh ngày 30/12/1999 và Nguyễn Trường V, sinh ngày 27/7/2008. Hiện nay 02 con chung là Nguyễn Thị Tr và Nguyễn Giang N đã trưởng thành, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn cháu Nguyễn Trường V hiện đang ở với chị và chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng, chăm sóc vì cháu từ nhỏ đã sống cùng chị. Chị không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, công nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Phía bị đơn là anh Nguyễn Trường G trong quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng anh G không có mặt tại Tòa án và Tòa án cũng không thể lấy lời khai được của anh G vì vậy không thể tiến hành hòa giải đoàn tụ được.

Tại phiên tòa nguyên đơn là chị vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với anh Nguyễn Trường G.

Bị đơn là anh Nguyễn Trường G đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong phát biểu ý kiến đã đánh giá việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thẩm tra viên là đúng pháp luật; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng pháp luật, bị đơn không chấp hành đúng pháp luật, không có mặt theo giấy triệu tập của Toà án, cố tình trốn tránh.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng các điều 28, 35, 39, 147 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 51, 56, 57, 81, 82 Luật hôn nhân gia đình;

Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Ch.

- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Ch được ly hôn với anh G.

- Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Trường V, sinh ngày 27/7/2008 cho chị Ch nuôi dưỡng, chăm sóc.

- Về cấp dưỡng: Không đặt ra xem xét giải quyết do chị Ch không yêu cầu.

- Về tài sản chung, công nợ: Không đặt ra xem xét giải quyết do chị Ch không yêu cầu.

- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ch phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thủ tục tố tụng: Theo đơn khởi kiện nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Ch xin ly hôn anh Nguyễn Trường G, đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình. Bị đơn là anh Nguyễn Trường G hiện đang cư trú tại thôn Như Nguyệt, xã Tam Giang, huyện Yên Phong do vậy Tòa án nhân dân huyện Yên Phong đã thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Chị Nguyễn Thị Ch kết hôn với anh Nguyễn Trường G ngày 25/12/1993, trước khi kết hôn có được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã Tam G, huyện Yên Phong. Xét thấy đây là hôn nhân hợp pháp vì đã tuân đầy đủ các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Ch HĐXX nhận thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Ch và anh G là có thật và nguyên nhận do bất đồng quan điểm trong quá trình chung sống. Anh G sống không không có trách nhiệm, không quan tâm đến gia đình, vợ con, nhiều lần đanh đập, chửi bới, xúc phạm đến chị Ch và gia đình. Từ những mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống hàng ngày nhưng không được các bên giải quyết một cách triệt để dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng. Do vợ chồng chung sống với nhau không hạnh phúc nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Ch, xử cho chị Ch được ly hôn với anh G là đảm bảo cuộc sống riêng cho mỗi bên.

Về con chung: Vợ chồng chị Ch, anh G có 03 con chung là Nguyễn Thị Tr, sinh ngày 24/10/1995; Nguyễn Giang N, sinh ngày 30/12/1999 và Nguyễn Trường V, sinh ngày 27/7/2008. Hiện nay 02 con chung là Nguyễn Thị Tr và Nguyễn Giang N đã đủ 18 tuổi trở lên, chị Ch không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Đối với cháu Nguyễn Trường V chưa đủ 18 tuổi, hiện đang ở với chị Ch và chị Ch có nguyện vọng được nuôi dưỡng, chăm sóc nên Hội đồng xét xử xét thấy ở thời điểm hiệ tại cần giao cháu Vũ cho chị Ch chăm sóc, nuôi dưỡng khi ly hôn là đảm bảo quyền vờ lợi ích của cháu V và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu V.

Về cấp dưỡng: Không xem xét giải quyết do chị Ch không yêu cầu.

Về tài sản chung, công nợ: Chị Nguyễn Thị Ch không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ch phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các điều 235, 264, 266, 267, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Ch, xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ch được ly hôn anh Nguyễn Trường G.

2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Trường V, sinh ngày 27/7/2008 cho chị Nguyễn Thị Ch trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng: Không xem xét giải quyết do chị Ch không yêu cầu.

Anh G được quyền thăm nom con chung song không được làm ảnh hưởng đến cuộc sống riêng của chị Ch và cháu Vũ. Không ai được cản trở quyền này của anh G.

3. Về tài sản chung, công nợ: Không xem xét giải quyết do chị Ch không yêu cầu.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ch phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm (được trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số: AA/2021/0004695, ngày 13/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Phong). Chị Ch đã nộp đủ tiền án phí.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ