- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BA HNGĐ - ST giữa Trần Thị S và Nguyễn Thanh S1"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: bà Trần Thị S(Trần Thị Hồng S) được ly hôn với ông Nguyễn Thanh S1.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2023/HNGĐ-ST Ngày: 23 – 6 – 2023 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Tịnh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Mai Phước
2. Bà Vũ Thị Lựu
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Vui – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 03/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2023/QĐXX - ST ngày 29 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 17/2023/QĐST – HNGĐ ngày 16/6/2023, giữa các đương S1:
* Nguyên đơn: Bà Trần Thị S (Trần Thị Hồng S), sinh năm: 1984
* Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh S1, sinh năm: 1978
Nguyên đơn và bị đơn cùng địa chỉ: khu phố 9, phường Long Phước, thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước.
(Nguyên đơn; bị đơn vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 10/01/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trần Thị S trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: bà Trần Thị Svà ông Nguyễn Thanh S1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Đức Liễu, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước vào ngày 07/11/2006. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 07 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do gặp khó khăn về kinh tế, làm ăn thua lỗ, vợ chồng không có S1 chia sẻ, cảm thông lẫn nhau. Từ năm 2013 đến nay vợ chồng sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Bà Snhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, không thể kéo dài cuộc sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Phước Long giải quyết cho bà được ly hôn với ông S1.
Về con chung: bà và ông S1 có một con chung tên Nguyễn Trần Tuấn K, sinh ngày 31/8/2007, từ khi sống ly thân năm 2013 đến nay bà Slà người trực tiếp nuôi con vì vậy bà Syêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi; không yêu cầu ông S1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Thanh S1 được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, triệu tập nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến trình bày của ông S1.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân S1. Hội đồng xét xử đúng thành phần thực hiện nguyên tắc xét xử độc lập, chỉ tuân theo pháp luật. Tại phiên tòa nguyên đơn vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt, Bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn theo quy định.
- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 53, 56, 57; 81, 82 và 83 luật Hôn nhân và gia đình; điều 147, điểm b khoản 2 điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân S1; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Hội đồng xét xử nhận định đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Trong vụ án, bị đơn có nơi cư trú tại thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Phước Long theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân S1 .
Tại phiên tòa, vắng mặt nguyên đơn bà Snhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Thanh S1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng ông Ngọc vẫn vắng mặt không vì S1 kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân S1, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Xét theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Svà ông Nguyễn Thanh S1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Đức Liễu, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước vào ngày 07/11/2006. Do vậy, hôn nhân giữa bà Svà ông S1 là hợp pháp.
Sau khi kết hôn, bà Svà ông S1 chung sống hạnh phúc đến năm 2013 là phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do gặp khó khăn về kinh tế, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã, vợ chồng không có S1 quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Trong quá trình Tòa án thu thập chứng cứ (BL 20, 22) cũng thể hiện nguyên nhân mâu thuẫn, tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng như phía nguyên đơn trình bày. Mặt khác, bà Svà ông S1 đã sống ly thân từ năm 2013 cho đến nay, trong khoảng thời gian sống ly thân cũng như trong quá trình Tòa án giải quyết, mâu thuẫn giữa bà Svà ông S1 vẫn không được giải quyết. Từ những cơ sở trên, Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn giữa bà Svà ông S1 đã lâm vào trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do vậy, yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn có căn cứ nên cần được chấp nhận. Áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân & gia đình 2014 Hội đồng xét xử cho bà Sđược ly hôn với ông S1.
Về con chung: bà Svà ông S1 có một con chung tên Nguyễn Trần Tuấn K, sinh ngày 31/8/2007. Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi vợ chồng sống ly thân cháu K do bà Strực tiếp nuôi dưỡng, cháu được chăm sóc tốt nên cần giao cho bà Snuôi dưỡng và việc giao cháu K cho bà Snuôi dưỡng cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu K, mong muốn được ở với mẹ.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do bà Skhông yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.
Về tài sản chung và nợ chung: bà Svà ông S1 không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.
Về quan điểm của Kiểm sát viên đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với qui định pháp luật, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.
[4] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 BLTTDS 2015 và khoản 5 Điều 27 NQ số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án nguyên đơn phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân S1 năm 2015;
Áp dụng khoản 1 Điều 53; Điều 56, Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí - lệ phí Tòa án
Tuyên xử:
1.Về quan hệ hôn nhân: bà Trần Thị S(Trần Thị Hồng S) được ly hôn với ông Nguyễn Thanh S1.
2.Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Trần Tuấn K, sinh ngày 31/8/2007 cho bà Trần Thị Sđược trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu K đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: ông Nguyễn Thanh S1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông S1 không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con. Khi người có yêu cầu được quy định tại Điều 119 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Tòa án có thể thay đổi về việc cấp dưỡng.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét.
4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm không có giá ngạch: bà Trần Thị Sphải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí bà Giang đã nộp theo biên lai thu số 0008420 ngày 10/01/2023 của Chi cục thi hành án dân S1 thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Bình Phước; - VKSND thị xã Phước Long; - UBND p. Sơn Giang, tx Phước Long, BP (số 27, Quyển số 02, ngày 07/11/2006); - Các Đương S1; - Lưu hồ sơ vụ án, Tòa án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Thị Tịnh |