- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị H N Niê và anh Y S Mlô"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2023/HNGĐ-ST Ngày: 15-5-2023 “V/v: Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Kim Chung.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Hải, ông Y Dhiệu Hmok.
Thư ký phiên tòa: Ông Y Sơ Mi Niê Kđăm – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã B: Bà Ngô Thị Thu Hà – Kiểm sát viên
Ngày 15 tháng 5 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Đắk Lắk mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 220/2022/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2022, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2023/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà H Niê, sinh năm 1981; có mặt
Trú tại: Buôn H, xã Ea D, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.
- Bị đơn: Ông Y S Mlô, sinh năm 1975; vắng mặt
Trú tại: Buôn H, xã E, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 07/02/2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà H Ñ Niê trình bày có nội dung:
Bà H Ñ Niê và ông Y S Mlô tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 26 tháng 01 năm 2005, tại Uỷ ban nhân dân xã E, thị xã B, tỉnh Đăk Lăk. Thời gian đầu ông bà chung sống với nhau hạnh phúc, nhưng sau đó một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông Y S thường xuyên ăn nhậu, không lo tạo dựng và phát triển kinh tế gia đình và hay đánh đập vợ con nên giữa vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên ông bà đã sống ly thân từ đầu năm 2021 cho đến nay. Từ khi kết hôn bà H Ñ Niê và ông Y S Mlô về sống chung với gia đình bà H Ñ Niê tại buôn H, xã E, thị xã B, tỉnh Đăk Lăk.
Để đảm bảo cuộc sống riêng tư của mỗi người và ổn định sinh sống làm ăn, bà H Ñ Niê yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Y S Mlô.
Về con chung: Quá trình chung sống, bà H Ñ Niê và ông Y S Mlô có hai con chung tên Y J Niê, sinh ngày 07/8/2002 và H J Niê, sinh ngày 08/12/2004. Hiện tại các cháu đều đã đủ tuổi trưởng thành và phát triển bình thường vì vậy bà H Ñ Niê không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và công nợ: Bà H Ñ Niê không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn ông Y S Mlô mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia tố tụng tại Tòa án nhưng ông Y S Mlô đều vắng mặt không có lý do. Tòa án tiến hành giải quyết và xét xử vắng mặt ông Y S Mlô theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án tại phiên tòa đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục và các quy định của pháp luật, bị đơn không thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, bà H Ñ Niê vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về khởi kiện và thụ lý vụ án: Ngày 22-6-2022 nguyên đơn nộp đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo; Ngày 28-6-2022, Toà án Thông báo về quyền lựa chọn hoà giải và lựa chọn hoà giải viên; Ngày 30-6-2022 nguyên đơn có ý kiến đề nghị không yêu cầu hoà giải và không lựa chọn hoà giải viên khi ly hôn; Ngày 04-7-2022 và ngày 26-9-2022 Tòa án ra thông báo nộp tạm ứng án phí, ngày 07-10-2022 nguyên đơn nộp tạm ứng án phí. Tòa án thụ lý vụ án theo quy định tại Điều 191 và Điều 195 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là quan hệ pháp luật về “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Đắk Lắk theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về yêu cầu của đương sự:
Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa bà H Ñ Niê và ông Y S Mlô là quan hệ hôn nhân hợp pháp, vợ chồng tự nguyện đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Trong quá trình chung sống bà H Ñ Niê xác định vợ chồng luôn xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông Y S thường xuyên ăn nhậu, không lo tạo dựng và phát triển kinh tế gia đình và hay đánh đập vợ con nên giữa vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên ông bà đã sống ly thân từ đầu năm 2021 cho đến nay.
Qua xác minh tại chính quyền đia phương về tình trạng mâu thuẫn vợ chồng của bà H Ñ Niê và ông Y S Mlô thì địa phương cung cấp quá trình chung sống giữa bà H Ñ Niê và ông Y S Mlô thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do ông Y S thường xuyên uống rượu rồi đánh đập vợ con, mặc dù ban tự quản và gia đình hai bên đã hòa giải và khuyên can nhưng vẫn không có kết quả, hiện nay bà H Ñ Niê và ông Y S Mlô đã sống ly thân với nhau từ năm 2021 đến nay.
Hội đồng xét xử xét thấy giữa bà H Ñ Niê và ông Y S Mlô đã vi phạm đến quyền và nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cho bà H Ñ Niê ly hôn ông Y S Mlô là phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có hai con chung là Y J Niê, sinh ngày 07/8/2002 và H J Niê, sinh ngày 08/12/2004. Hiện tại các cháu đều đã đủ tuổi trưởng thành và phát triển bình thường vì vậy bà H Ñ Niê không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung và công nợ: Bà H Ñ Niê không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không đề cập.
Về án phí: Nguyên đơn bà H Ñ Niê phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Bị đơn ông Y S Mlô không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà H Ñ Niê được ly hôn với ông Y S Mlô.
2. Về con chung: Hiện tại các con chung đã đủ tuổi trưởng thành và phát triển bình thường, nên HĐXX không đề cập.
3. Về tài sản chung và công nợ chung: Bà H Ñ Niê không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không đề cập xem xét.
Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Nguyên đơn bà H Ñ Niê phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 60AA/2021/0018199 ngày 07-10-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Buôn Hồ.
Bị đơn ông Y S Mlô không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk - VKSND thị xã B; - Chi cục THA dân sự thị xã B; - UBND xã E; - Các đương sự; - Lưu vp, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trương Kim Chung |