- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lâm Thị Phương T ly hôn với Ngô Văn N"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Thị Phương T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A - TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2023/HNGĐ-ST Ngày: 02/6/2023 “V/v tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A - TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đồng Ánh Đông
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Thảo.
2. Ông Phan Đình Nguyên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai.
Ngày 02/6/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 60/2023/TLST-HNGĐ ngày 20/3/2023 “Về việc tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/5/2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lâm Thị Phương T, sinh năm 1982; địa chỉ: xx Lê Lợi, Tổ S, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Ngô Văn N, sinh năm 1978; địa chỉ: xx Lê Lợi, Tổ S, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Lâm Thị Phương T trình bày: Chị T và anh Ngô Văn N tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn vào ngày 26/6/2012 tại UBND phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do không hợp tính nhau, khác nhau về quan điểm sống nên cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Hiện nay, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh N. Về con chung: Chị T và anh N có hai con chung là Ngô Th, sinh ngày 14/12/2008 và Ngô K, sinh ngày 18/6/2013. Chị T yêu cầu được nuôi dưỡng hai con và không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Ngô Văn N trình bày: Anh N và chị T tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn như chị T đã trình bày. Quá trình chung sống, vợ chồng không hiểu tính nhau, không thông cảm cho nhau nên có xảy ra mâu thuẫn, nhưng không đến mức phải ly hôn. Anh N mong muốn được hàn gắn để nuôi con nên không đồng ý ly hôn với chị T. Về con chung: Anh N và chị T có hai con chung là Ngô Th, sinh ngày 14/12/2008 và Ngô K, sinh ngày 18/6/2013. Anh N đồng ý theo nguyện vọng của các con và theo yêu cầu của chị T về việc nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Lâm Thị Phương T yêu cầu ly hôn với anh Ngô Văn N, sinh năm 1978; địa chỉ: xx Lê Lợi, Tổ S, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì đây là vụ án tranh chấp về ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã A.
Về hôn nhân: Chị Lâm Thị Phương T và anh Ngô Văn N có đủ điều kiện kết hôn và đã đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, chị T và anh N đã phát sinh mâu thuẫn dẫn đến chị T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh N. Tổ dân phố S và UBND phường A đã có xác nhận về tình trạng mâu thuẫn của chị T và anh N. Tại phiên tòa, cả hai đều không cố gắng gỡ bỏ mâu thuẫn để tiếp tục chung sống với nhau. Hội đồng xét xử đã phân tích động viên để vợ chồng đoàn tụ, nhưng chị T cho rằng không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân và vẫn cương quyết ly hôn với anh N. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh N là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh N.
Về con chung: Chị T và anh N có hai con chung là Ngô Th, sinh ngày 14/12/2008 và Ngô K, sinh ngày 18/6/2013. Chị T yêu cầu được nuôi dưỡng các con, các cháu Th và K đều có nguyện vọng được mẹ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy, vì lợi ích của con, chị T có đủ điều kiện để nuôi con. Vì vậy, cần giao các cháu Th và K cho chị T được trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Chị T không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị T và anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, anh Ngô Văn N không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
2. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Thị Phương T.
- Về hôn nhân: Chị Lâm Thị Phương T được ly hôn với anh Ngô Văn N.
- Về nuôi con: Giao cho chị Lâm Thị Phương T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu Ngô Th, sinh ngày 14/12/2008 và Ngô K, sinh ngày 18/6/2013; khi các cháu Th và K chưa thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Chị T không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trên cơ sở lợi ích của con, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về án phí: Chị Lâm Thị Phương T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000đ, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ theo biên lai số 0006619 ngày 20/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã A, tỉnh Gia Lai; chị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
3. Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (02/6/2023), các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSND thị xã A; - Chi cục THADS TX. A; - UBND phường A, TX. A (để ghi vào sổ hộ tịch); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án, án văn, VPTA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Đồng Ánh Đông |