vanban.org

Bản án 18/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Huỳnh Thị Kim K.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Kim K được ly hôn với ông Trần Văn Q. Về con chung: 02 người là là Trần Vũ T, sinh ngày 20/02/2006 và Trần Vũ X, sinh ngày 21/9/2012, giao cho bà K tiếp tục nuôi dưỡng, cũng phù hợp với Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Huỳnh Thị Kim K.
  • Căn cứ chính? Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TRÀ VINH
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 31-3-2023
“V/v Xin ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TRÀ VINH, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích Chi

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Cao Minh Sơn

2. Bà Thạch Thị Mỹ Kim

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Giữ, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh: Không tham gia phiên tòa.

Trong ngày 31 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 08/2023/TLST-HNGĐ, ngày 12 tháng 01 năm 2023, về việc “Xin ly hôn và nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 09 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Kim K, sinh ngày 15/4/1981 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp M, xã G, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.

- Bị đơn: Ông Trần Văn Q, sinh năm 1980 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp M, xã G, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.

- 2 -

- Con chưa thành niên:

1/- Cháu Trần Vũ T, sinh ngày 20/02/2006

2/- Cháu Trần Vũ X, sinh ngày 21/9/2012

Cùng địa chỉ: Ấp M, xã G, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh

Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim K và bị đơn ông Trần Văn Q có đơn xin xét xử vắng mặt nên vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 06 tháng 12 năm 2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim K thể hiện:

Bà K và ông Trần Văn Q kết hôn với nhau năm 2004, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh. Quá trình chung sống bà K và ông Q có 02 con chung là Trần Vũ T, sinh ngày 20/02/2006 và Trần Vũ X, sinh ngày 21/9/2012. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó khoảng đầu năm 2022 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Hiện tại bà K và ông Q không có tiếng nói chung và không còn chung sống với nhau nữa. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà K yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà K được ly hôn với ông Trần Văn Q. Về con chung 02 người là Trần Vũ T, sinh ngày 20/02/2006 và Trần Vũ X, sinh ngày 21/9/2012, bà K yêu cầu được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu ông Q phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn ông Trần Văn Q vắng mặt nên không có lời trình bày.

- Con chưa thành niên Trần Vũ T và Trần Vũ X vắng mặt nhưng có lời khai thể hiện: Con là con của mẹ Huỳnh Thị Kim K và cha Trần Văn Q. Nay cha mẹ con ly hôn thì con có nguyện vọng được sống chung với mẹ.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim K có đơn xin xét xử vắng mặt nhưng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Q. Về con chung 02 người là Trần Vũ T, sinh ngày 20/02/2006 và Trần Vũ X, sinh ngày 21/9/2012, bà K yêu cầu được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu ông Q phải cấp dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết

Bị đơn ông Trần Văn Q vắng mặt tại phiên tòa nên không có lời trình bày.

- 3 -

Các đương sự đều vắng mặt nên cũng không trực tiếp thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và cũng không có đương sự nào cung cấp bổ sung tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh cho yêu cầu của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án Hôn nhân và Gia đình về việc “Xin ly hôn”, căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.

Về tố tụng: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim K và bị đơn ông Trần Văn Q có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử có căn cứ để tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này theo quy định tại Điều 227 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án không thực hiện thủ tục tố tụng tiến hành điều tra, xác minh, thu thập chứng cứ đối với vụ án nên đại diện Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Kim K và ông Trần Văn Q kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh vào năm 2004. Do trong cuộc sống vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn tình cảm được và đã ly thân nhau thời gian dài nên bà K yêu cầu ly hôn với ông Q.

Xét yêu cầu xin ly hôn của bà K, do giữa vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn, tình cảm vợ chồng giữa bà K và ông Q không còn thương yêu nhau và hai người đã ly thân nhau một thời gian dài nên bà K yêu cầu ly hôn với ông Q. Hội đồng xét xử nhận thấy cuộc sống vợ chồng của bà K và ông Q không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu xin ly hôn của bà K là có căn cứ để chấp nhận.

Tại phiên tòa hôm nay, ông Trần Văn Q có đơn xin xét xử vắng mặt thể hiện ý chí của ông Q không muốn hàn gắn để tiếp tục chung sống, nuôi dạy con trẻ, xây dựng gia đình hạnh phúc với bà K và cũng thể hiện ông Q đã từ bỏ quyền tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

- 4 -

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim K.

Về con chung: 02 người là Trần Vũ T, sinh ngày 20/02/2006 và Trần Vũ X, sinh ngày 21/9/2012, bà K yêu cầu được tiếp tục nuôi con. Cháu Trần Vũ T và Trần Vũ X có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với mẹ.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Cháu Trần Vũ T và Trần Vũ X đang độ tuổi nhi đồng nên rất cần có sự chăm sóc của mẹ và cháu T và cháu K cũng có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với mẹ. Do đó, yêu cầu nuôi con của của bà K là có căn cứ để chấp nhận.

Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Do bà K không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con. Đây là sự tự nguyện của bà K nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Do bà Huỳnh Thị Kim K khai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị Kim K phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 207; Điều 227; Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 11, khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Huỳnh Thị Kim K.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Kim K được ly hôn với ông Trần Văn Q.

- Về con chung: 02 người là là Trần Vũ T, sinh ngày 20/02/2006 và Trần Vũ X, sinh ngày 21/9/2012, giao cho bà K tiếp tục nuôi dưỡng, cũng phù hợp với

- 5 -

nguyện vọng của cháu T và cháu X là muốn được sống chung với mẹ. Ông Q không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Huỳnh Thị Kim K khai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.

* Về án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm: Buộc bà Huỳnh Thị Kim K phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được cấn trừ vào số tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng mà bà K đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0013400, ngày 11 tháng 01 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh, nên bà K không phải nộp tiếp.

Án xử sơ thẩm công khai báo đương sự vắng mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã, phường nơi đương sự cư trú để xin Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ