- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ông Nguyễn Ngọc Q1 và bà Võ Thị Q2"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Ngọc Q1 được ly hôn với bà Võ Thị Q2.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2023/HNGĐ-ST Ngày 21-3-2023 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,
TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trần Long
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Đình Nguyên
Bà Nguyễn Thị Hồng Lam
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 637/2022/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 8 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2023/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc Q1, sinh năm: 1980. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Nơi thường trú: Số 151 L, tổ dân phố Đ, thị trấn D, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
2. Bị đơn: Bà Võ Thị Q2, sinh năm: 1964. (vắng mặt)
Nơi thường trú: Tổ dân phố 1, thị trấn D, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nơi tạm trú: Số 115/5/1 T, khu phố 5, phường M, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 04-8-2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc Q1 trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Võ Thị Q2 sau một thời gian tìm hiểu đã tự nguyện tiến đến hôn nhân và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn D, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 19-6-2017. Trong quá trình chung sống, vợ chồng ông thường phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng về quan điểm sống, về văn hóa ứng xử, giao tiếp trong cuộc sống sinh hoạt. Mặc dù đã nhiều lần hòa giải nhưng vẫn không thể hòa hợp với nhau dẫn đến cuộc sống vợ chồng ngày càng thêm trầm trọng, sống không có hạnh phúc. Vợ chồng ông đã không còn chung sống với nhau từ cuối năm 2019 cho đến nay, mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai. Nay tình cảm không còn, ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Võ Thị Q2.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng ông có 02 con chung tên Võ Bảo Q3, sinh ngày: 13-7-2005 và Võ Bảo Q4, sinh ngày: 25-4-2007, hiện do ông nuôi dưỡng. Ông có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu bà Q2 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn bà Võ Thị Q2: Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bà Q2 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trả lời cho Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận phát biểu ý kiến:
Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án luôn tuân thủ theo pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc Q1 đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn bà Võ Thị Q2 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc Q1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con chung với bị đơn bà Võ Thị Q2, nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại phường M, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm theo khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự .
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc Q1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn bà Võ Thị Q2 đã được Tòa án tiến hành thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Ông Q1 và bà Q2 tự nguyện tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn nên đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Q1 vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với lý do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng về cách ứng xử, giao tiếp trong cuộc sống sinh hoạt dẫn đến vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau, vợ chồng ông đã không còn chung với nhau hơn 03 năm nay, mạnh ai nấy sống, không còn quan tâm đến nhau nên ông xác định không còn tình cảm với bà Q2 và mong muốn được ly hôn. Theo quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc gia đình”. Mặc dù bà Q2 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà không đến Tòa làm việc và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu xin ly hôn của ông Q1. Chứng tỏ bà không thiết tha gì trong việc bảo vệ hạnh phúc gia đình của riêng mình, có thái độ bỏ mặc cuộc hôn nhân này. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa ông Q1 và bà Q2 đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Ngọc Q1.
Về con chung: Ông Nguyễn Ngọc Q1 có nguyện vọng xin được nuôi con và không yêu cầu bà Q2 cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy cháu Q3 và cháu Q4 đều có nguyện vọng xin được ở với cha, hiện nay do ông Q1 đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, công việc tài xế của ông ổn định, đủ khả năng lo cho con. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Võ Bảo Q3, sinh ngày: 13-7-2005 và Võ Bảo Q4, sinh ngày: 25-4-2007 cho ông Q1 trực tiếp nuôi dưỡng, bà Q2 không phải cấp dưỡng nuôi con do ông Q1 không có yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với những nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí: Ông Nguyễn Ngọc Q1 phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Ngọc Q1 được ly hôn với bà Võ Thị Q2.
2. Về con chung: Giao con chung tên Võ Bảo Q3, sinh ngày: 13-7-2005 và Võ Bảo Q4, sinh ngày: 25-4-2007 cho ông Nguyễn Ngọc Q1 trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Võ Thị Q2 không phải cấp dưỡng nuôi con do ông Nguyễn Ngọc Q1 không có yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về án phí: Ông Nguyễn Ngọc Q1 phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0004415 ngày 04 tháng 8 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Ông Nguyễn Ngọc Q1 đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm; nguyên đơn, bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND TP. PR-TC; - Chi cục THADS TP. PR-TC; - TAND tỉnh Ninh Thuận; - UBND thị trấn D; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Trần Long |