vanban.org

Bản án 18/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị Ngọc M được ly hôn anh Ngô Trung K.

Về con chung: Không có. Về tài sản chung và công nợ chung: Không có. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Ngọc M - Ngô Trung K"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị Ngọc M được ly hôn anh Ngô Trung K.
  • Căn cứ chính? Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÒA BÌNH
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18 /2023/HNGĐ-ST
Ngày: 21 - 4 - 2023
“V/v ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH – TỈNH HÒA BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Trường Sơn

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lan và ông Bùi Thanh Nhiến

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thảo – Thư ký Tòa án TP Hòa Bình

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà

Trần Thị Ngọc Lê – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 4 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 24/2023/TLST-HNGĐ ngày 17/02/2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2023/QĐXX-ST ngày 20/3/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2023/QĐST-HNGĐ ngày 05/4/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Trần Thị Ngọc M, sinh năm 1993

Nơi ĐKHKTT: tổ 02, cụm 1, P. KĐ, Q. Thanh Xuân, Hà Nội.

- Bị đơn: anh Ngô Trung K, sinh năm 1993

Nơi ĐKHKTT: tổ 14, phường PL, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình

Chỗ ở hiện nay: tổ 02, phường PL, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình

Chị M có đơn xin xét xử vắng mặt, anh K vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và tại lời khai trong suốt quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Trần Thị Ngọc M trình bày:

Chị và anh Ngô Trung K kết hôn năm 2022, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Khương Đình, quận Thanh Xuân trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu.

Sau khi cưới hai vợ chồng chung sống bình thường, tuy nhiên đến khoảng đầu tháng 02/2022 chị phát hiện anh K có đi vay rất nhiều khoản vay từ ứng dụng trên mạng và người thân, bạn bè. Chị và hai bên gia đình đã đứng ra trả toàn bộ các khoản vay đó. Đến đầu tháng 6/2022 anh K lại tiếp tục vay mượn qua các ứng dụng trên mạng, ngân hàng, bạn bè. Con số vay mượn đã lên tới vài trăm triệu. Một lần nữa chị cùng gia đình đã đứng ra trả hết số nợ anh K đã khai. Từ đó vợ chồng không còn tin tưởng nhau dẫn đến mâu thuẫn và vợ chồng sống ly thân từ tháng 10/2022. Đầu tháng 02/2023 chị và gia đình đã nhận được những tin nhắn và cuộc gọi nặc danh đe dọa và cắt ghép hình ảnh cá nhân của anh K ghi những người liên đới tới anh K phải chịu trách nhiệm với những khoản anh K đã đi vay mượn, điều này đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe, tinh thần của chị và gia đình. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên chị xin được ly hôn.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung và công nợ chung: Không có.

Tại biên bản lấy lời khai của ông Ngô Quang Tr (Bố đẻ của anh K) cho biết: Ông đã nhận được các giấy triệu tập, thông báo và các văn bản tố tụng của Tòa án. Ông đã trực tiếp giao các văn bản trên cho anh K và cho biết quan điểm của anh K trong vụ việc là cũng đồng ý ly hôn chị Trần Thị Ngọc M. Về mâu thuẫn vợ chồng theo ông được biết nguyên nhân là do anh K làm ăn thua lỗ nên dẫn đến nợ nần.

Đại diện tổ dân phố số 02, phường Phương Lâm cho biết: Trước đây anh K và gia đình có hộ khẩu thường trú tại tổ 14, phường Phương Lâm, TP Hòa Bình. Khoảng từ năm 2013 thì gia đình anh đã về tổ 02, phường Phương Lâm để sinh sống cho tới nay. Hiện tổ dân phố cũng đã nhận được các băn bản tố tụng của Tòa án và đã giao trực tiếp cho gia đình anh K. Còn về mâu thuẫn vợ chồng anh K chị M tổ dân phố không nắm được, chỉ biết hai vợ chồng hiện không chung sống cùng nhau.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Ngô Trung K theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên anh K đã không có mặt tại địa phương, do vậy Tòa án phải niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật.

Nguyên đơn đã có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, vì bị đơn cố tình trốn tránh, gây khó khăn. Do đó vụ án không thể tiến hành hòa giải được.

Ngày 05/4/2022 vụ án được đưa ra xét xử, bị đơn anh Kiên vắng mặt nên phiên tòa phải hoãn lần thứ nhất. Hôm nay bị đơn vẫn tiếp tục vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình phát biểu ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là cho chị Trần Thị Ngọc M được ly hôn anh Ngô Trung K. Về con chung: Không có. Về tài sản chung và nợ chung: Không có. Chị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng dân sự:

- Chị Trần Thị Ngọc M khởi kiện xin ly hôn với anh Ngô Trung K. Hiện anh K có đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại: phường Phương Lâm, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình. Căn cứ khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình.

- Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo khoản 1, khoản 4 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Tòa án đã tiến hành triệu tập, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Ngô Trung K. Mặc dù biết việc triệu tập nhưng anh K không tới Tòa án để giải quyết, cố tình trốn tránh. Theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật tố tụng dân sự: Đương sự phải có nghĩa vụ tôn trọng Tòa án, phải có mặt theo giấy triệu tập và chấp hành quyết định của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án. Như vậy, anh K đã từ bỏ quyền lợi của mình về việc được nêu quan điểm, ý kiến và cung cấp chứng cứ chứng minh. Theo Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa chỉ căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu do nguyên đơn cung cấp cũng như các tài liệu mà Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập để làm căn cứ giải quyết vụ án.

- Về sự có mặt của đương sự, Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân:

Chị Trần Thị Ngọc M và anh Ngô Trung K kết hôn năm 2022, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội, trên cơ sở tự nguyên tìm hiểu tự nguyện là đúng quy định của pháp luật hôn nhân gia đình. Quá trình chung sống vợ chồng đã nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh K đã vay mượn rất nhiều các khoản nợ, cũng không rõ mục đích vay nợ dẫn đến mất khả năng thanh toán. Hiện vợ chồng đã sống ly thân mỗi người một nơi, không quan tâm tới nhau. Chị M xin ly hôn vì vợ chồng đã không còn tình cảm. Căn cứ vào lời khai của đương sự và kết quả xác minh, Hội đồng xét xử thấy rằng mâu thuẫn giữa chị M và anh K đã căng thẳng, kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị M.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung:

Đương sự khai không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 207; Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, 57 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị Ngọc M được ly hôn anh Ngô Trung K.

2. Về con chung: Không có.

3. Về tài sản chung và công nợ chung: Không có.

4. Về án phí: Chị Trần Thị Ngọc M phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chị M đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình theo biên lai số 0004747, ngày 17/02/2023. Xác nhận chị M đã nộp đủ án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Chị M, anh K có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ