vanban.org

Bản án 18/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nhữ Văn M về việc ly hôn.

Ông Nhữ Văn M được ly hôn với bà Nguyễn Thị N. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nhữ Văn M về việc ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2023/HNGĐ-ST
Ngày 23-5-2023
“V/v Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU – TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Ngọc Bình Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Hữu Trung.

2. Ông Trần Văn Nam.

- Thư ký phiên tòa: ông Hoàng Đức Trọng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều tham gia phiên toà: ông Vũ Văn Tấp - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2023, tại Phòng xử án, Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 429/2022/TLST- HNGĐ, ngày 14 tháng 12 năm 2022 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2023/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Nhữ Văn M, sinh năm 1957. Trú tại: thôn X, xã B, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Nguyễn Thị N, sinh năm 1960. Trú tại: thôn X, xã B, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt lần 2 không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 11 tháng 11 năm 2022 và biên bản lấy lời khai ngày 02 tháng 02 năm 2023, nguyên đơn Nhữ Văn M trình bày:

Ông Mơ và bà Nguyễn Thị N tự nguyện kết hôn, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương năm 1978. Sau khi kết hôn, ông bà về chung sống tại thôn A, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương. Năm 1990, ông bà chuyển về sinh sống tại thôn X, xã B, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh đến nay. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do ông bà không mang lại hạnh phúc cho nhau. Từ năm 2018 đến nay, ông bà sống ly thân mỗi người ở một nơi. Mặc dù được gia đình hai bên và người thân động viên, hòa giải nhưng tình cảm vẫn không được cải thiện, mâu thuẫn càng ngày càng trầm trọng. Nay tình cảm vợ chồng giữa hai người không còn, cuộc sống chung vợ chồng không còn hạnh phúc, ông đề nghị Tòa án giải quyết cho ông bà được ly hôn.

Về con chung: Quá trình chung sống ông bà có 04 người con chung là Nhữ Thị U, sinh năm 1981; Nhữ Văn L, sinh năm 1984; Nhữ Thị T, sinh năm 1987; Nhữ Văn T, sinh năm 1990. Các con chung của ông bà đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và các khoản nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản làm việc ngày 02/3/2023, bà Nguyễn Thị N có lời khai như sau:

Về tình cảm: ông bà tự nguyện kết hôn, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương năm 1978. Sau khi kết hôn, ông bà về chung sống tại thôn An Bình (nay là thôn An Sơn), xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương. Năm 1990, ông bà chuyển về sinh sống tại thôn X, xã B, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh đến nay. Quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu do ông M có những mối quan hệ bên ngoài. Ông bà sống ly thân với nhau từ năm 2019, khi ly thân, mỗi người sống một nơi. Bà không đồng ý ly hôn.

Về con chung: ông bà có 04 người con chung là Nhữ Thị U, sinh năm 1981; Nhữ Văn L, sinh năm 1984; Nhữ Thị T, sinh năm 1987; Nhữ Văn T, sinh năm 1990. Hiện các con chung đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và các khoản nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định tại Điều 196, 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử và thư ký tại phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Nhữ Văn M về việc ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa:

Về quan hệ tranh chấp: ông Nhữ Văn M có đơn khởi kiện đề nghị được ly hôn với bà Nguyễn Thị N. Đây là vụ án “Tranh chấp về hôn nhân gia đình” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a, khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải theo đúng trình tự và thủ tục của Bộ luật tố tụng dân sự quy định. Trong quá trình tống đạt các tài liệu, quyết định tố tụng của Tòa án cho các đương sự theo đúng trình tự thủ tục tố tụng. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị N không đến tòa án làm việc theo giấy triệu tập của Tòa án. Tòa án đã thực hiện việc lấy lời khai của bà tại nơi bà cư trú có sự chứng kiến của ông Nguyễn Văn L (là trưởng thôn X), bà N không ký vào biên bản làm việc. Tại phiên tòa, ông Nhữ Văn M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bà Nguyễn Thị N vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.

Về tình cảm: ông Nhữ Văn M và và Nguyễn Thị N kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký năm 1978 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương. Quá trình chung sống, vợ chồng có hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, không đem lại hạnh phúc cho nhau. Tuy nhiên, mâu thuẫn vẫn không được giải quyết. Như vậy, thực tế cuộc hôn nhân của ông bà đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng mà không thể hàn gắn được, mục đích chung sống không đạt. Yêu cầu của ông Nhữ Văn M đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với bà Nguyễn Thị N có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận.

Về con chung: Quá trình chung sống ông bà có 04 con đã thành niên, Tòa án không đề cập giải quyết.

Về tài sản chung và các khoản nợ: ông bà không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về án phí: ông Nhữ Văn M là người cao tuổi, có nguyện vọng được miễn án phí nên được chấp nhận là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nhữ Văn M về việc ly hôn.

Ông Nhữ Văn M được ly hôn với bà Nguyễn Thị N.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ