- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” của bà Lê Thị Tr đối với ông Trương Minh Nh.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNG SƠN TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18 /2023/HNGĐ-ST Ngày: 28 - 7- 2023 V/v:“Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
----------------------------------
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Anh
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Bá Dương
Ông Nguyễn Tuấn Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn.TP Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 22/2023/TLST- HNGĐ ngày 22 tháng 03 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2023/QĐST - HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2023 giữa:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Tr, sinh năm 1994. Địa chỉ: Tổ 18A, thôn Ph, xã C, TP., tỉnh Q. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Trƣơng Minh Nh, sinh năm 1994. Địa chỉ: Tổ 27, phường H, quận Ng, TP Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
ơ
* Trong đơn khởi kiện gửi đến Toà án và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn trình bày:
Tôi và ông Trương Minh Nh kết hôn vào năm 2018, hôn nhân được xây dựng trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND phường Khuê Mỹ, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại tổ 27, phường Hoà Hải, quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2019 phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do ông Trương Minh Nh ham chơi bạn bè, không có trách nhiệm gia đình và con nên dẫn tới thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau và sống ly thân nhau, không ai quan tâm đến nhau. Nay tôi không còn tình cảm yêu thương ông Nh nữa, tôi yêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn với ông Nh.
Về con chung: Tôi và ông Nhựt có 01 con chung là Trương Minh K, sinh ngày 20/9/2019. Ly hôn tôi có nguyện vọng nuôi dưỡng con Trương Minh K và không yêu cầu cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có
* Bị đơn ông Trương Minh Nh trong suốt quá trình tố tụng đều vắng mặt nên không có ý kiến thể hiện hồ sơ.
* Tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án gồm:
1. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thẩm tra viên, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
* Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:
Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm này thấy rằng về cơ bản Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 BLTTDS. Thẩm phán đã xác định đúng về thẩm quyền thụ lý vụ án, thời hiệu khởi kiện, quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng theo quy định của BLTTDS.
- Việc thu thập chứng cứ: Về cơ bản việc thu thập chứng cứ đảm bảo theo đúng Điều 95 BLTTDS.
- Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của BLTTDS về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho VKS và người tham gia tố tụng theo đúng quy định tại Điều 170, 171, 177, 178, 203, 205, 210 BLTTDS.
- Về thời hạn chuẩn bị xét xử Tòa án thực hiện đảm bảo theo quy định tại Điều 203 BLTTDS.
* Việc tuân theo pháp luật của HĐXX, Thư ký tại phiên tòa:
Tại phiên Tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện nguyên tắc xét xử, thủ tục phiên tòa sơ thẩm theo đúng quy định tại chương II, chương XIV BLTTDS. Thư ký được phân công đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 51 BLTTDS.
2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án:
Từ khi thụ lý cho đến thời điểm này, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71, 72 BLTTDS. Bị đơn không thực hiện đúng.
Căn cứ vào Điều 56, 58, 81, 83 Luật hôn nhân gia đình Việt Nam; căn cứ Điều 35, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn, nuôi con chung của bà Lê Thị Tr đối với ông Trương Minh Nh.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Lê Thị Tr được ly hôn ông Trương Minh Nh.
- Về con chung: Giao cháu Trương Minh K, sinh ngày 20/9/2019 cho bà Lê Thị Tr trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Nhkhông phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: bà Trdo ông Nh vắng mặt nên không xác định được tài sản chung và nợ chung cần tách ra khi đương sự có yêu cầu tòa án sẽ giải quyết bằng 01 vụ kiện dân sự khác.
Nguyên đơn phải chịu án phí theo qui định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và qua kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Về thẩm quyền giải quyết, tranh chấp ly hôn và nuôi con chung thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông Trương Minh Nh đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông.
Về nội dung vụ án bà Lê Thị Tr và ông Trương Minh Nh kết hôn với nhau vào năm 2018, hôn nhân được xây dựng trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND phường Khuê Mỹ, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại tổ 27, phường Hoà Hải, quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2019 phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do tính tình quan điểm sống không hợp nhau, ông Nhựt ham chơi không có trách nhiệm với gia đình và con, dẫn tới thường xuyên cãi vã, cũng từ đó hai vợ chồng sống ly thân, không ai quan tâm đến nhau. Nay bà Trinh không còn tình cảm yêu thương ông Nhựt nữa, bà yêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn với ông Nhựt.
Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Trinh thì thấy: Hạnh phúc gia đình chỉ thực sự đạt được khi cả vợ chồng cùng có niềm tin và tình yêu, sự thông cảm và chia sẻ cùng nhau trong cuộc sống nhưng đến nay cả hai ông bà đã không còn giữ được điều này. Trong thời gian mâu thuẫn từ 2019 đến nay vợ chồng không tìm kiếm được tiếng nói chung, cũng như không có giải pháp để cùng nhau dung hòa mâu thuẫn cải thiện lại quan hệ vợ chồng đã chấm dứt từ lâu. Khi bà Tr nộp đơn yêu cầu giải quyết ly hôn, Tòa án đã triệu tập nhiều lần để hòa giải nhưng ông Nh đều vắng mặt thể hiện ý thức ông không chấp hành pháp luật cũng như bỏ mặc việc níu kéo đối với chính cuộc hôn nhân của mình. Do đó thấy mâu thuẫn của vợ chồng đã thật sự trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, thấy có níu kéo cũng không đem lại kết quả gì nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Tr đối với ông Nhựt là phù hợp với điều 51 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Bà Trinh và ông Nhựt có 01 con chung là Trương Minh K, sinh ngày 20/9/2019. Ly hôn bà có nguyện vọng nuôi dưỡng con Trương Minh K và không yêu cầu cấp dưỡng.
Xét yêu cầu xin được nuôi con của bà Trinh thì thấy hiện nay cháu K còn nhỏ, đang có cuộc sống sinh hoạt ổn định, thấy không nhất thiết phải thay đổi xáo trộn cuộc sống của cháu nên yêu cầu xin được nuôi con của bà Trinh là phù hợp nên HĐXX chấp nhận, bà Tr không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Về tài sản chung bà Trinh không yêu cầu giải quyết, và nợ chung bà Tr xác định không có, tuy nhiên tại phiên tòa do ông Nhvắng mặt nên không có cơ sở xác định vợ chồng có hay không tài sản chung và nợ chung nên HĐXX không đề cập xem xét, tách ra sau này các đương sự nếu có yêu cầu thì giải quyết bằng vụ án khác.
Án phí HNGĐ sơ thẩm: 300.000đ bà Lê Thị Tr phải chịu khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng theo biên lai thu số 0009565 ngày 14 tháng 3 năm 2023.
Xét đề nghị của vị đại diện viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 51, 56, 81 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 227 BLTTDS.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” của bà Lê Thị Tr đối với ông Trương Minh Nh.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Lê Thị Tr được ly hôn ông Trương Minh Nh. (Giấy chứng nhận kết hôn số 40/2018 ngày 06/6/2018 của UBND phường Khuê Mỹ, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng không còn hiệu lực).
2. Về quan hệ con chung: Giao cháu Trương Minh K, sinh ngày 20/9/2019 cho bà Lê Thị Tr trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Nhựt không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Các bên vẫn được thực hiện mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi cần thiết vì lợi ích chung của con các bên có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Tách ra khi có yêu cầu thì giải quyết vụ án khác .
4. Án phí HNGĐ sơ thẩm: 300.000đ bà Lê Thị Tr phải chịu khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng theo biên lai thu số 0009565 ngày 14 tháng 3 năm 2023.
Án xử công khai sơ thẩm báo cho các đương sự có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Riêng bị đơn được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các điều 6,7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi Hành án dân sự.
| Nơi nhận : - Đương sự; - Viện KSND quận Ngũ Hành Sơn; ĐN - Chi cục THADS quận Ngũ Hành Sơn; ĐN - UBND phường Khuê Mỹ, quận NHS; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA đã ký Lƣơng Thị Anh |