- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huy, Thủy"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Nguyễn H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2023/HNGĐ-ST. Ngày: 17 – 3 – 2023 “V/v Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Ngọc Trân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Hà Ngân Kim Tới.
2/ Ông Huỳnh Minh Thuận.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ông Thị Cành Nha - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Ngọc, Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh S, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 10/2023/TLST- HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2023 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2023/QĐXXST–HNGĐ ngày 15 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Trần Nguyễn H; Sinh năm 1991; Địa chỉ: Số 602 ấp C, xã Đ, huyện T, tỉnh S (Ông H vắng mặt – có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt).
* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T; Sinh năm 1993; Địa chỉ: Số 059 ấp C, xã Đ, huyện T, tỉnh S (Bà T vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn ông Trần Nguyễn H trình bày:
Ông với bà Nguyễn Thị Thanh T tổ chức lễ cưới vào năm 2013 nhưng đến năm 2014, ông bà mới đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh S và được Ủy ban nhân dân xã Đ cấp giấy chứng nhận kết hôn số 46 ngày 24 tháng 02 năm 2014. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sống ở nhà cha mẹ ông H ở số 602 ấp C, xã Đ, huyện T, tỉnh S. Ông bà chung sống hạnh phúc cho đến đầu năm 2019 thì phát sinh sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hai người bất đồng quan điểm, không hợp tính tình. Hai người tuy không có cãi vã nhưng chuyện ai nấy làm, không quan tâm đến nhau. Hai người đã không còn sống chung với nhau từ năm 2019 cho đến nay.
Trong quá trình chung sống, ông H với bà T có một con chung là Trần Anh K, sinh ngày 22/11/2013. Cháu đang sống với cha.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Nay ông Trần Nguyễn H yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thanh T.
- Về con chung: Ông H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh T không có lời trình bày do vắng mặt.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã ban hành thông báo thụ lý số 10/TB-TLVA ngày 11 tháng 01 năm 2023, tống đạt hợp lệ cho bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh T nhưng bà Nguyễn Thị Thanh T không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của ông Trần Nguyễn H. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ hai lần đối với bà Nguyễn Thị Thanh T để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà Nguyễn Thị Thanh T đều vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành mở phiên họp và đã lập biên bản không tiến hành hòa giải được. Đồng thời đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Tính đến ngày Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử, vụ án còn trong thời hạn chuẩn bị xét xử theo điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Nguyễn H ly hôn với bà Nguyễn Thị Thanh T. Về con chung: Giao cháu Trần Anh K cho ông Trần Nguyễn H trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục. Bà Nguyễn Thị Thanh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, ông Trần Nguyễn H và bà Nguyễn Thị Thanh T đều vắng mặt nhưng nguyên đơn ông H có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, còn bà T mặc dù đã được tống đạt giấy triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không rõ lý do. Do đó Tòa án căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt đối với ông H và bà T.
Về nội dung: Ông Trần Nguyễn H và bà Nguyễn Thị Thanh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh S cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 46 ngày 24 tháng 02 năm 2014 nên quan hệ hôn nhân giữa ông H và bà T là hợp pháp. Nguyên đơn ông H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là yêu cầu Toà án cho ly hôn với bà T, yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Về quan hệ hôn nhân: Xét lý do xin ly hôn của ông H, Hội đồng xét xử xét thấy, ông H và bà T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Hai người chung sống hạnh phúc cho đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hai người bất đồng quan điểm, không hợp tính tình. Hai người tuy không có cãi vã nhưng chuyện ai nấy làm, không quan tâm đến nhau. Hai người đã không còn sống chung với nhau từ năm 2019 cho đến nay. Thời gian ly thân vợ chồng không ai tới lui, chăm sóc cho nhau. Xét thấy tình trạng hôn nhân của hai người đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó ông Trần Nguyễn H yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thanh T là có căn cứ được quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Cháu Trần Anh K trình bày có nguyện vọng được sống với cha nếu cha và mẹ cháu ly hôn. Ông H yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con. Ông H trình bày ông làm nhân viên bán hàng và thu nhập một tháng khoảng 10.000.000 đồng và thu nhập này ông có thể nuôi dưỡng cháu Kim. Căn cứ vào khỏan 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Trần Anh K cho ông Trần Nguyễn H nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do ông H không yêu cầu nên bà T không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Ông H trình bày không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về nợ chung: Ông H trình bày không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do ông H yêu cầu nên ông H phải chịu theo luật định.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Nguyễn H.
- Về hôn nhân: Ông Trần Nguyễn H được quyền ly hôn với bà Nguyễn Thị Thanh T.
- Về con chung: Giao cháu Trần Anh K, sinh ngày 22/11/2013 cho ông Trần Nguyễn H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Bà Nguyễn Thị Thanh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Bà Nguyễn Thị Thanh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp bà Nguyễn Thị Thanh T lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì ông Trần Nguyễn H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của bà Nguyễn Thị Thanh T. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông Trần Nguyễn H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0006602 ngày 21/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh S. Như vậy, ông Trần Nguyễn H đã nộp xong án phí.
- Về quyền kháng cáo bản án: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -VKSND huyện T; -Chi cục THA huyện T; -TAND tỉnh S (P.KTNV&THA); -Các đương sự. -UBND xã Đ, huyện T, tỉnh S; -Lưu HSVA. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đặng Thị Ngọc Trân |