- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn, nuôi con giữa nguyên đơn Lang Thị S và bị đơn Vi Văn G; đều trú tại thôn: CT, xã LT, huyện Thường…"
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TAND HUYỆN THƯỜNG XUÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2023/HNGĐ - ST Ngày 13 tháng 10 năm 2023 V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG XUÂN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Sỹ Hỷ; Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Trần Ngọc Đạo;
2. Ông: Lê Văn Bình;
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ánh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Xuân tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Hùng - Kiểm sát viên;
Ngày 13 tháng 10 năm 2023. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân. Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân mở lại phiên tòa để đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 107/2023/TLST – HNGĐ, ngày 15/6/2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn, nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2023/QĐXXST – HNGĐ, ngày 15 tháng 9 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2023/QĐST - HNGĐ ngày 27/9/2023 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Lang Thị S – sinh năm 1986 (có mặt); Địa chỉ: Thôn CT, xã LT, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
2.Bị đơn: Vi Văn G – sinh năm 1984(vắng mặt); Địa chỉ: Thôn CT, xã LT, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 02/02/2023 của chị Lang Thị S là nguyên đơn và các bản tự khai của đương sự, các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án thể hiện:
* Về hôn nhân: Nguyên đơn Lang Thị S và bị đơn Vi Văn G kết hôn với nhau vào năm 2004, trên cơ sở hôn nhân tự nguyện, tự do tìm hiểu, thật sự yêu thương nhau và không bị ai ép buộc được hai bên 2 gia đình đồng ý, tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã LT vào ngày 29/11/2004. Sau khi lấy nhau về vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì năm 2018 tình cảm vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn tình cảm vợ chồng là do tính tình vợ chồng không hợp, quan điểm, suy nghĩ, cách sống của mỗi người là khác nhau, không thông cảm cho nhau nên không tìm thấy sự hòa hợp trong đời sống vợ chồng; nguyên đơn cho rằng bị đơn Vi Văn G sống không có trách nhiệm với gia đình, không chăm lo làm ăn, thường chửi bới xúc phạm vợ, con. Chị S đã nhiều lần động viên, khuyên nhủ nhưng anh G vẫn không thay đổi. Mâu thuẫn tình cảm vợ chồng đã được 2 bên gia đình nhiều lần đứng ra dàn xếp, hòa giải nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không cải thiện được. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 08/2019 đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa.
Trước tình trạng mâu thuẫn tình cảm vợ chồng như vậy, hiện nay chị S nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài. Vì vậy nguyên đơn Lang Thị S đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa giải quyết cho chị được ly hôn với bị đơn Vi Văn G.
*Về con cái: Trong thời gian chung sống vợ chồng có 03 con chung, tên cháu là Vi Văn T – sinh ngày 17/9/2006, Vi Thị Thùy D1 – sinh ngày 18/4/2011 và Vi Thị Thùy D2 – sinh ngày 31/10/2017. Hiện nay các con đang ở với chị S. Nguyện vọng của cháu Vi Văn T là muốn được ở với anh G; Các cháu Vi Thị Thùy D1 và Vi Thị Thùy D2 muốn ở với chị S. Nay ly hôn, nguyên đơn Lang Thị S đề nghị Tòa án giải quyết vấn đề con cái theo quy định của pháp luật.
*Về tài sản và công nợ: Tài sản chung, tài sản riêng và công nợ không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn Vi Văn G sau khi Tòa án niêm yết thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập và thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải của Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân và gọi điện thoại cho anh G thì anh G không có ý kiến gì, cũng không đến Tòa án để làm việc theo giấy triệu tập cũng như thông báo hòa giải. Qua xác minh tại địa phương thì anh Vi Văn G có hộ khẩu thường trú tại thôn CT, xã LT, huyện Thường Xuân, hiện tại anh G đang đi làm ăn xa không có mặt ở địa phương; các giấy tờ Tòa án tống đạt cho ông Vi Văn Ng (bố anh G), để ông Ng thông tin lại cho anh G biết, Sau khi nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án, ông Ng đã thông báo cho anh G biết, nhưng anh G không đến Tòa án để làm việc theo giấy triệu tập. Như vậy anh Vi Văn G không hợp tác, gây khó khăn cho Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã lập biên bản về việc không hòa giải được đối với vụ việc trên. Vào ngày 27 tháng 9 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân đã mở phiên tòa đưa vụ án ra xét xử, đã niêm yết quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập hợp lệ, nhưng bị đơn Vi Văn G vẫn cố tình vắng mặt không có lý do. Tòa án đã ra quyết định hoãn phiên tòa, niêm yết công khai quyết định hoãn phiên tòa tại nơi cư trú của bị đơn. Tại phiên tòa hôm nay một lần nữa bị đơn Vi Văn G vắng mặt không có lý do.
Tại biên bản xác minh nguyên nhân mâu thuẫn tình cảm vợ chồng, UBND xã LT, huyện Thường Xuân đã xác nhận: Mâu thuẫn tình cảm vợ chồng anh Vi Văn G và chị Lang Thị S chính quyền địa phương không nắm được, thôn, xã cũng không được hòa giải mâu thuẫn tình cảm vợ chồng. Hiện tại anh G đang đi làm ăn xa, thỉnh thoảng mới trở về địa phương; vợ chồng anh G, chị S có 03 con chung. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án.
*Ý kiến của đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Xuân tham gia phiên tòa phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
- Về tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và chấp hành pháp luật của nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, không có thiếu sót vi phạm gì; Bị đơn Vi Văn G không chấp hành các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án.
- Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51,56,57,81,82,83 Luật hôn nhân gia đình 2014; Khoản 2 Điều 21, Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 271, 273,278 và 280 BLTTDS 2015; Điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lang Thị S; Giao các cháu Vi Văn T, Vi Thị Thùy D1, Vi Thị Thùy D2 cho nguyên đơn Lang Thị S tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bị đơn đơn Vi Văn G có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng theo quy định của pháp luật cho đến khi các con đến tuổi trưởng thành. Nguyên đơn phải chịu án phí HNGĐ sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
1.1. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Lang Thị S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về ly hôn, nuôi con với anh Vi Văn G. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
1.2.Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn Vi Văn G có nơi cư trú tại thôn CT, xã LT, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa có thẩm quyền giải quyết vụ án.
1.3.Về sự vắng mặt của bị đơn tại phiên tòa: Bị đơn Vi Văn G đã được Tòa án niêm yết công khai quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập hợp lệ. Tại phiên tòa hôm nay bị đơn vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của bị đơn không thuộc trường hợp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào điểm b, khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung:
2.1Về hôn nhân: Nguyên đơn Lang Thị S và bị đơn Vi Văn G tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 29/11/2004 tại Ủy ban nhân dân xã LT, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa, đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính cách không hợp nhau, không thông cảm cho nhau dẫn đến cải cọ nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Nguyên đơn xin ly hôn, bị đơn không có ý kiến gì. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận thấy về hôn nhân giữa nguyên đơn Lang Thị S và bị đơn Vi Văn G đời sống chung vợ chồng không có hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa. Vì vậy nên chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn Lang Thị S là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
2.2.Về con cái: Vợ chồng có 03 con chung là Vi Văn T – sinh ngày 17/9/2006, Vi Thị Thùy D1 – sinh ngày 18/4/2011 và Vi Thị Thùy D2 – sinh ngày 31/10/2017, hiện nay các con đang ở cùng với chị S. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn Lang Thị S vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án xem xét giải quyết cho chị được nuôi dương chăm sóc giáo dục cả 03 cháu: Văn T, Thùy D1 và Thùy D2 và đề nghị bị đơn Vi Văn G có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng là 1.000.000đ/1 tháng/1 cháu, kể từ tháng 10 năm 2023 cho đến khi các con đủ tuổi trưởng thành. Xét điều kiện nuôi con của cả nguyên đơn và bị đơn thì thấy, nguyên đơn có thu nhập ổn định khoảng 7.000.000đ/tháng và nơi cư trú ổn định; Cháu T có nguyện vọng muốn được ở với anh G, tuy nhiên hiện tại anh G đang đi làm ăn xa, không thường xuyên có mặt tại địa phương. Để đảm bảo các điều kiện phát triển bình thường của trẻ em, do cháu đang còn nhỏ, tâm sinh lý phát triển chưa hoàn thiện, nên cần sự quan tâm, gần gủi chăm sóc từ người mẹ, vì vậy giao cả 03 cháu Văn T, Thùy D1, Thùy D2 cho chị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật. Bị đơn Vi Văn G có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng theo quy định của pháp luật và được quyền đi lại, thăm nom các con không ai được cản trở.
2.3. Về tài sản, công nợ: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.
2.4.Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5, Điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016. Nguyên đơn, bị đơn phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51,56,57,81,82,83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Khoản 2 Điều 21, Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 271, 273 và 278 BLTTDS 2015; Điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016.
1. Về hôn nhân:
Xử: Cho nguyên đơn Lang Thị S được ly hôn với bị đơn Vi Văn G.
2. Về con cái:
Giao các cháu Vi Văn T – sinh ngày 17/9/2006, Vi Thị Thùy D1 – sinh ngày 18/4/2011 và Vi Thị Thùy D2 – sinh ngày 31/10/2017 cho nguyên đơn Lang Thị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bị đơn Vi Văn G có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng là 1.000.000đ(Một triệu đồng)/tháng/cháu, kể từ tháng 10/2023 cho đến khi các con đủ tuổi trưởng thành(đủ 18 tuổi) và được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con không ai được ngăn cản.
3.Về tài sản, công nợ: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.
4.Về án phí và các vấn đề khác: Nguyên đơn Lang Thị S phải nộp 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự - HNGĐ sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2022/0002458, ngày 15/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Nguyên đơn Lang Thị S đã thi hành xong về phần án phí.
Bị đơn Vi Văn G phải nộp 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) án phí định kỳ cấp dưỡng nuôi con chung.
Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - Các đương sự; -VKSND huyện Thường Xuân; - Chi cục THADS huyện Thường Xuân; - Ban Tư pháp xã LT huyện Thường Xuân, Thanh Hóa; - TAND tỉnh Thanh Hóa; - Lưu hồ sơ; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Sỹ Hỷ |