- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Kiều Thị S "tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn" Trần Văn L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Kiều Thị S đối với ông Trần Văn L.
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LONG AN Bản án số: 18/2023/HNGĐ-ST Ngày: 12 – 6 – 2023 V/v “tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thật
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Thành Trung;
2. Bà Nguyễn Thị Thanh Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Long An.
- Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc – Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 83/2023/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Kiều Thị S, sinh năm 1969; Địa chỉ: Số 501, ấp 7, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
2. Bị đơn: Ông Trần Văn L, sinh năm 1985; Địa chỉ: Ấp 1, xã Th, huyện T, tỉnh Long An.
Bà S có mặt, ông L vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Kiều Thị S: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà Kiều Thị S trình bày:
Bà S và ông Trần Văn L có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Long An ngày 31/3/2014. Quá trình chung sống, bà S và ông L có 01 con chung tên Trần Kiều Minh T, sinh ngày 14/7/2014, hiện đang sống chung với bà S. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau khi có con chung thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu do tính tình hai bên không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên cãi vả, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 02/2020. Nay bà S nhận thấy mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn, bà S không còn tình cảm với ông L nên yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về hôn nhân: Bà S yêu cầu ly hôn ông Trần Văn L.
- Về con chung: Bà S yêu cầu được nuôi con chung tên Trần Kiều Minh T, sinh ngày 14/7/2014, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản và nợ: Bà S không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Yêu cầu, đề nghị của bị đơn – ông Trần Văn L: Ông L đã được Tòa án nhân dân huyện T triệu tập hợp lệ đúng quy định của pháp luật nhưng ông L vắng mặt không có lý do và không có ý kiến hay văn bản đề nghị gửi cho Tòa án. Do đó, Tòa án nhân dân huyện T tiến hành các thủ tục tố tụng để đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và đương sự đã thực hiện đúng theo quy định của tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết: Bà Kiều Thị S và ông Trần Văn L có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Long An vào năm 2014 nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Bà S khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con chung, đây là quan hệ pháp luật được quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình, ông L cư trú trên địa bàn thuộc huyện T, tỉnh Long An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vắng mặt ông Trần Văn L: Xét thấy, ông L đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt ông L.
Về hôn nhân giữa bà Kiều Thị S và ông Trần Văn L:
Xét thấy, bà Kiều Thị S trình bày nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình và quan điểm sống của vợ chồng không hợp nhau, vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên cãi vả. Bà S và ông L đã sống ly thân từ tháng 02 năm 2020. Bà S xác định mâu thuẫn giữa bà S và ông L là không thể hàn gắn được, hiện tại bà S không còn quan tâm đến cuộc sống của ông L, ông không còn tình cảm với ông L nên yêu cầu được ly hôn.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông L vắng mặt không tham gia tố tụng tại Tòa án và cũng không có ý kiến phản bác lời trình bày của bà S. Quá trình Tòa án giải quyết, ông L cũng không có hành động biểu hiện thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Như vậy, lời trình bày của bà S về tình trạng mâu thuẫn giữa bà S với ông L là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở khẳng định tình cảm vợ chồng giữa bà S và ông L không còn, tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà S đối với ông L.
Về con chung: Bà S và ông L có một con chung tên Trần Kiều Minh T, sinh ngày 14/7/2014. Khi ly hôn, bà S yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét thấy, con chung hiện đang sống ổn định với bà S, do bà S chăm sóc, nuôi dưỡng, cháu Thư có nguyện vọng được sống với mẹ. Ông L vắng mặt và không có văn bản ý kiến nào phản bác đối với đề nghị của bà S về việc nuôi dưỡng con chung. Do đó, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu nuôi dưỡng con chung của bà S. Bà S được quyền nuôi dưỡng con chung tên Trần Kiều Minh T. Bà S không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung nên Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án này.
Về tài sản và nợ: Bà S không yêu cầu Toà án giải quyết, ông L không có văn bản thể hiện yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bà Kiều Thị S phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm sung vào công quỹ Nhà nước theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39 và Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Kiều Thị S đối với ông Trần Văn L.
1. Về hôn nhân: Cho bà Kiều Thị S được ly hôn với ông Trần Văn L.
2. Về con chung: Giao con chung tên Trần Kiều Minh T, sinh ngày 14/7/2014cho bà S nuôi dưỡng. Ông L không phải cấp dưỡng nuôi con chung. (Con chung Trần Kiều Minh T hiện đang sống với bà S).
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản và nợ: Các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên Toà án không xem xét giải quyết trong vụ án này.
4. Về án phí: Bà Kiều Thị S phải chịu 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước. Chuyển số tiền 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí mà bà S đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011117 ngày 12 tháng 10 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Long An sang thi hành án phí. Bà S đã nộp xong án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Ông Trần Văn L không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bà S có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Ông L vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án.
6. Về việc thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện T; - CC THADS huyện T; - UBND xã nơi đăng ký kết hôn; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thật |