- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị Kim H tranh chấp ly hôn với ông Lê Thanh T"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN TÂN HƯNG TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2023/HNGĐ-ST Ngày: 12-6-2023 V/v tranh chấp “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HƯNG – TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Chí Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Ngọc Chánh.
2. Ông Trương Quang Trung.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lệ Thu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Bé Thơ – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 148/2022/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm: 1981 (có mặt);
Địa chỉ: Ấp Cả C, xã V, huyện T, tỉnh Long An.
2. Bị đơn: Ông Lê Thanh T, sinh năm: 1978 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Cả C, xã V, huyện T, tỉnh Long An.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng N; Địa chỉ: Số 02, L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng: Ông Nguyễn Ngọc S; Chức vụ: Giám đốc chi nhánh Ngân hàng N. Là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số: 2965/QĐ-NHNO-PC ngày 27/12/2019).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 04 tháng 10 năm 2022 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim H trình bày:
1. Về hôn nhân: Sau thời gian tìm hiểu bà và ông Lê Thanh T đã tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T vào ngày 08/12/1998. Thời gian đầu chung sống với nhau hạnh phúc nhưng đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn.
Nguyên nhân mâu thuẫn do quan điểm sống không đồng thuận, dẫn đến cự cãi với nhau, ông T nhiều lần nhậu về chửi và đánh bà. Vợ chồng bà đã sống ly thân từ tháng 10/2022 cho đến nay, khi vợ chồng bà sống ly thân thì bà đi làm công nhân ở Thành phố Hồ Chí Minh, còn ông T sống tại ấp Cả C, xã V, huyện T, tỉnh Long An.
Bà H thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài nên bà H yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông T.
2. Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có hai con chung tên Lê Thanh K, sinh ngày: 16/12/1999, giới tính: nam và Lê Duy K, sinh ngày: 25/10/2003, giới tính: nam. Nay các con chung đều đủ tuổi trưởng thành, có thể sống tự lập nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về nợ chung: Vợ chồng bà có nợ Ngân hàng N thông qua chi nhánh huyện T, tỉnh Long An số tiền 140.000.000 đồng.
Ngân hàng N trình bày:
Khoản vay của ông T, bà H được đảm bảo bằng tài sản thế chấp, hiện khoản vay chưa đến hạn, khách hàng chưa vi phạm các điều khoản cam kết. Nay ông T, bà H ly hôn thì Ngân hàng N xin không tham gia tố tụng, nếu sau này ông T, bà H vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng sẽ khởi kiện bằng một vụ án khác.
Tòa án đã tiến hành mở phiên hòa giải giữa các đương sự nhưng không tiến hành hòa giải được. Các bên đương sự xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho Tòa án, không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán là đúng theo quy định; Hội đồng xét xử đều đúng quy định của pháp luật; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án:
- Về hôn nhân: Vợ chồng bà H và ông T có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Nay bà H nhận thấy mối quan hệ giữa bà và ông T có rất nhiều mâu thuẫn, bất đồng không thể giải quyết được, ông T thường xuyên uống rượu, xúc phạm bà, đời sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Bà H và ông T đã ly thân từ tháng 10/2022 đến nay không có khả năng đoàn tụ nên yêu cầu của bà H về việc ly hôn với ông T là có căn cứ chấp nhận theo khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.
- Về con chung: hai con chung tên Lê Thanh K, sinh ngày: 16/12/1999, giới tính: nam và Lê Duy K, sinh ngày: 25/10/2003, giới tính: nam đều đã đủ tuổi trưởng thành, có thể sống tự lập nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đề cập đến.
- Về nợ chung: Do Ngân hàng N không khởi kiện nên không đề cập đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Bà Nguyễn Thị Kim H khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Lê Thanh T, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự thì quan hệ tranh chấp trong vụ kiện này là tranh chấp “Ly hôn” nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Ông Lê Thanh T trú tại ấp Cả C, xã V, huyện T, tỉnh Long An. Do đó, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An.
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông Lê Thanh T không đến, Tòa án lập biên bản không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
Khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho ông Lê Thanh T nhưng ông T vẫn vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt ông T theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà H với ông T là hợp pháp. Quá trình chung sống do hai bên bất đồng quan điểm sống nên dẫn đến mâu thuẫn, ông T không quan tâm lo cho gia đình và thường xuyên nhậu về xúc phạm bà H, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10/2022 cho đến nay. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà H với ông T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà H yêu cầu được ly hôn là có căn cứ theo các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Hai con chung tên Lê Thanh K, sinh ngày: 16/12/1999, giới tính: nam và Lê Duy K, sinh ngày: 25/10/2003, giới tính: nam đều đã đủ tuổi trưởng thành, có thể sống tự lập không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.
Về tài sản chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.
Về nợ chung: Do Ngân hàng N chưa yêu cầu khởi kiện nên không đề cập đến.
Đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hưng là có căn cứ chấp nhận.
Về án phí: Áp dụng Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bà Nguyễn Thị Kim H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Ông Lê Thanh T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 235 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim H được ly hôn với ông Lê Thanh T.
2. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.
3. Về nợ chung: Do Ngân hàng N chưa yêu cầu khởi kiện nên không đề cập đến.
4. Về án phí:
Bà Nguyễn Thị Kim H phải chịu án phí án 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003341 ngày 20 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hưng, tỉnh Long An. Bà Nguyễn Thị Kim H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Lê Thanh T không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện/tỉnh; - Chi cục THADS; - UBND xã V, huyện T, tỉnh Long An; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Chí Dũng |