vanban.org

Bản án 18/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đinh Thị H.

1/ Về hôn nhân: Chị Đinh Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Mạnh H1. 2/ Về con chung: Chị H và anh H1 có 02 con chung: Nguyễn Đinh Tuấn K, sinh ngày 01/10/2013 và Nguyễn Cát T, sinh ngày 15/4/2016. Giao 02 con chung Nguyễn Đinh Tuấn K và Nguyễn Cát T cho chị Đinh Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đinh Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG ANA
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2023/HNGĐ-ST
Ngày 11 tháng 9 năm 2023
V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Soái.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Thế Chiến.

2. Ông Vũ Kim Quy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Lợi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Ana.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana tham gia phiên tòa: Bà HĐơk Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Ana, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 37/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32 ngày 21 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đinh Thị H, sinh năm 1989. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Mạnh H1, sinh năm 1989. Vắng mặt lần thứ 02 không có lý do.

Địa chỉ: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 24/3/2023 và quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn chị Đinh Thị H trình bày:

Chị H kết hôn với anh Nguyễn Mạnh H1 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã E, huyện K vào ngày 21/12/2012. Sau khi kết hôn, anh chị sống hạnh phúc được 03 năm đầu, sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, anh H1 không lo làm ăn, hay uống rượu, nghen tuông vô cớ, sự việc xảy ra nhiều lần. Do không thể tiếp tục sống chung với anh H1, nên chị đã đưa con về nhà bố mẹ chị ở huyện H, tỉnh Hà Tĩnh sống từ tháng 6 năm 2021 và hai người ly thân từ đó cho đến nay. Trong thời gian ly thân, anh H1 thường xuyên nhắn tin, gọi điện đe dọa chị, làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Nhận thấy giữa chị và anh H1 không còn tình cảm, không còn thương yêu nhau, nên chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Mạnh H1.

Về con chung: Chị H và anh H1 có 02 con chung: Nguyễn Đinh Tuấn K, sinh ngày 01/10/2013 và Nguyễn Cát T, sinh ngày 15/4/2016. Hiện hai cháu đang sống với chị H, khi ly hôn, chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ đầy đủ các văn bản tố tụng cho bị đơn anh Nguyễn Mạnh H1 để tham gia tố tụng thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự tại Tòa án. Nhưng anh H1 vắng mặt tại buổi làm việc, không tham gia phiên họp, không tham gia phiên tòa.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa cũng như việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định tư cách đương sự của những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, về thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết định đưa vụ án ra xét xử, gửi thông báo thụ lý vụ án đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình; bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:

+ Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Đinh Thị H, chị H được ly hôn anh Nguyễn Mạnh H1.

+ Về con chung: Chị H và anh H1 có 02 con chung: Nguyễn Đinh Tuấn K, sinh ngày 01/10/2013 và Nguyễn Cát T, sinh ngày 15/4/2016. Hiện hai cháu đang sống với chị H1, khi ly hôn, chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, do đó cần tiếp tục giao 02 cháu K và T cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên.

+ Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập giải quyết.

+ Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Về nợ chung: Nguyên đơn xác nhận không có nên không đề cập giải quyết.

+ Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Đinh Thị H có đơn khởi kiện ly hôn anh Nguyễn Mạnh H1. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Bị đơn anh Nguyễn Mạnh H1 cư trú tại thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk.

. Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho các đương sự để tham gia tố tụng, thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn chị Đinh Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Mạnh H1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt tất cả các đương sự theo quy định của pháp luật.

. Về các yêu cầu của đương sự:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị H và anh Nguyễn Mạnh H1 đăng ký kết hôn tại UBND xã E, huyện K vào ngày 21/12/2012, là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc được một thời gian, sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không hòa hợp, từ đó vợ chồng thường xuyên xảy ra xung đột. Do không thể tiếp tục sống chung với anh H1, chị đã đưa con về nhà bố mẹ của mình ở huyện H, tỉnh Hà Tĩnh sống từ tháng 6 năm 2021 và hai người ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị H yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Mạnh H1.

Qua kết quả xác minh tại chính quyền địa phương cho thấy, vợ chồng anh H1, chị H đã xảy ra mâu thuẫn, hiện hai người đã sống ly thân.

Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh H1 đã xảy ra trầm trọng và kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H, chị H được ly hôn anh H1 là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

- Về con chung: Chị H và anh H1 có 02 con chung: Nguyễn Đinh Tuấn K, sinh ngày 01/10/2013 và Nguyễn Cát T, sinh ngày 15/4/2016. Hiện hai cháu đang sống với chị H, khi ly hôn, chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, do đó cần tiếp tục giao 02 cháu K và T cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên là phù hợp.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập giải quyết.

- Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Nguyên đơn xác nhận không có nên không đề cập giải quyết.

. Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên cần chấp nhận.

. Về án phí: Nguyên đơn chị Đinh Thị H phải chịu án ly hôn sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 56, 71, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đinh Thị H.

1/ Về hôn nhân: Chị Đinh Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Mạnh H1.

2/ Về con chung: Chị H và anh H1 có 02 con chung: Nguyễn Đinh Tuấn K, sinh ngày 01/10/2013 và Nguyễn Cát T, sinh ngày 15/4/2016. Giao 02 con chung Nguyễn Đinh Tuấn K và Nguyễn Cát T cho chị Đinh Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi đủ tuổi thành niên.

Anh Nguyễn Mạnh H1 có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

3/ Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập giải quyết.

4/ Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5/ Về nợ chung: Nguyên đơn xác nhận không có nên không đề cập giải quyết.

6/ Về án phí: Chị Đinh Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Ana, biên lai số 15407 ngày 30 tháng 3 năm 2023.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ