vanban.org

Bản án 18/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82…

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Anh Nguyễn Quốc M. 1/. Về quan hệ hôn nhân: Anh Anh Nguyễn Quốc M được ly hôn với chị Dương Thị B. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Quốc Miền=Dương Thị Bích"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82…
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KẾ SÁCH
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

&&&
Bản án số: 18/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 10/02/2023.
“V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG

* Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thạch Viết Tâm.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1/. Bà Lê Thị Diễm Huyền.

2/. Ông Nguyễn Văn Điệp.

* Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Thị Cúc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lâm Bích Ngọc, Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 330/2022/TLST-HNGĐ ngày 17/10/2022 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 397/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/12/2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2023/QĐST-HNGĐ ngày 13/01/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Quốc M, sinh năm 1981.

Địa chỉ: ấpKinh Giữa A, xã Kế T, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

- B đơn: Dương Thị B, sinh năm 1988.

Địa chỉ: ấpKinh Giữa A, xã Kế T, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 03/10/2022, nguyên đơn anh Anh Nguyễn Quốc M trình bày: Vào năm 2006 anh và chị Dương Thị B tự nguyện kết hôn, anh chị có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Kế Thành, huyện Kế Sách cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 21/7/2006. Quá trình chung sống vợ chồng có hai con chung là cháu Nguyễn Thị Ý Th, sinh ngày 3/7/2006 và cháu Nguyễn Quốc Thái, sinh ngày 30/01/2016, hiện nay đang sống chung với anh. Thời gian gần đây anh chị thường xuyên cãi nhau, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, chị B tự ý bỏ nhà ra đi từ ngày 10/6/2022 cho đến nay. Nhận thấy vợ chồng chung sống không hạnh phúc, hôn nhân không tồn tại nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị B, về con chung anh yêu cầu nuôi các con đến đủ tuổi trưởng thành, không yêu cầu chị B cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung, nợ chung thì anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn chị Dương Thị B đã được Tòa án thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng chị không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của anh M.

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Thẩm phán tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của pháp luật, việc xác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự và quan hệ pháp luật đang tranh chấp là chính xác, tại phiên tòa Hội đồng xét xử đúng thành phần, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh M và chị B được ly hôn, giao con chung cho anh M nuôi, chị B không cấp dưỡng, về tài sản chung và nợ chung không đặt ra xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Anh Anh Nguyễn Quốc M có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, chị Nguyễn Thị Bích đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng chị vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự. Tòa án căn cứ vào khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Vào 2006 anh M và chị B tự nguyện kết hôn với nhau và được Ủy ban nhân dân xã Kế Thành, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 21/7/2006. Vì vậy, hôn nhân của anh chị được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Anh M cho rằng sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc, thời gian sau thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Nay anh yêu cầu xin ly hôn với chị B. Thấy rằng: Hôn nhân giữa anh M và chị B đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, anh chị đã không còn chung sống với nhau một thời gian nhưng anh chị không có biện pháp hàn gắn tình cảm, không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh M, cho anh với chị B được ly hôn để mỗi người tạo lập cuộc sống mới.

Về con chung: Anh M và chị B có hai con chung là cháu Nguyễn Thị Ý Th, sinh ngày 3/7/2006 và cháu Nguyễn Quốc Thái, sinh ngày 30/01/2016, hiện nay đang sống chung với anh M. Anh M yêu cầu được nuôi các cháu đến tuổi trưởng thành, chị B không có văn bản trình bày ý kiến của mình, các cháu có nguyện vọng sống với cha. Để các cháu ổn định tâm lý và môi trường sống. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, giao cháu Thư và cháu Thái cho anh M trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị B không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do anh M không yêu cầu.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho chị B, không ai được quyền ngăn cản.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh M cho rằng anh chị tự thỏa thuận về tài sản chung, nợ chung, anh không yêu cầu giải quyết, chị B không có văn bản trình bày ý kiến nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Anh M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Như đã nhận định nêu trên, đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Anh Nguyễn Quốc M.

1/. Về quan hệ hôn nhân: Anh Anh Nguyễn Quốc M được ly hôn với chị Dương Thị B.

2/. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Ý Th, sinh ngày 3/7/2006 và cháu Nguyễn Quốc Thái, sinh ngày 30/01/2016 cho anh Anh Nguyễn Quốc M trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

3/. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Dương Thị B không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

4/. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho anh Anh Nguyễn Quốc M, không ai được quyền ngăn cản.

5/. Về tài sản chung và nợ chung: Anh Anh Nguyễn Quốc M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

6/. Về án phí: Anh Anh Nguyễn Quốc M phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai số 0004781 ngày 17/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. Anh M đã nộp đủ tiền án phí. Chị Dương Thị B không phải chịu án phí sơ thẩm.

7/. Báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

8/. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ