vanban.org

Bản án 18/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Thanh T. Chị Trần Thị Thanh T được ly hôn với anh Nguyễn Nhật Ph.

Về con chung: Các đương sự không có con chung nên Tòa án không giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đề cập xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Kiện ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Thanh T. Chị Trần Thị Thanh T được ly hôn với anh Nguyễn Nhật Ph.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EA H’LEO
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 20-3-2023
V/v: Kiện ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Quốc Hà

Các Hội thẩm nhân dân gồm có:

1. Ông Nguyễn Khắc Vũ

2. Ông Trần Hữu Linh

- Thư ký phiên toà: Ông Phan Việt Tiệp – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ea H’Leo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo tham gia phiên tòa: Ông Phạm Công Hà.

Ngày 20 tháng 3 năm 2023 tại phòng xử án - Toà án nhân dân huyện EaH’leo, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 400/2022/TLST–HNGĐ, ngày 04 tháng 10 năm 2022 về việc “Kiện ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 09 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2023/QĐST-HNGĐ ngày 28/02/2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thanh T, sinh năm 1984.

Địa chỉ: Số 57 Nguyễn Thái H, phường TL, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. – có đơn đề nghị vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Nhật Ph, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Tổ dân phố 6, thị trấn ED, huyện EH, tỉnh Đắk Lắk – vắng mặt không có lý do lần thứ hai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn chị Trần Thị Thanh T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh Ph chung sống với nhau từ năm 2021 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường TL, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Anh chị chung sống và kết hôn trên cơ sở tự nguyện có qua thời gian tìm hiểu. Trong quá trình chung sống anh chị hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, sau đó thì ly thân cho đến nay. Nay nhận thấy mâu thuẫn giữa anh chị đã không thể hàn gắn. Vì vậy, chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Ph.

Về con chung: Anh chị không có con chung nên không yêu cầu.

Về tài sản chung: Anh chị tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình thu thập chứng cứ, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng anh Ph vắng mặt không có lý do nên không ghi nhận được ý kiến của anh Phong. Đồng thời anh Ph không cung cấp, tài liệu chứng cứ gì.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’leo:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án “Ly hôn”, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về người tham gia tố tụng: Tòa án đã xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng.

Việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, việc cấp tống đạt các giấy tờ cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Thanh T và cho chị Tâm được ly hôn anh Ph.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án “Kiện ly hôn”. Việc Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Thanh T và anh Nguyễn Nhật Ph về chung sống với nhau vào năm 2021, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường TL, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật. Trong quá trình chung sống anh chị hạnh phúc được thời gian ngắn, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn do cả hai không tìm được tiếng nói chung, mục đích hôn nhân không đạt được.

Xét thấy, mâu thuẫn hiện nay của chị T, anh Ph chị là trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét yêu cầu xin ly hôn của chị Tâm là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Về con chung: Trong quá trình chung sống anh Ph, chị T không có con chung nên Tòa án không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu nên Tòa xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 và khoản 3 Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Thanh T. Chị Trần Thị Thanh T được ly hôn với anh Nguyễn Nhật Ph.

Về con chung: Các đương sự không có con chung nên Tòa án không giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đề cập xem xét.

Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ea H'Leo, theo biên lai số AA/2021/0010692, ngày 26 tháng 9 năm 2022.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ