vanban.org

Bản án 18/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vi Thị L.

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Vi Thị L được ly hôn anh Lý Ngọc Q. Về con chung: Giao cho anh Lý Ngọc Q trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là Lý Ngọc Hân, sinh ngày 12/4/2013 đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi), lao động tự túc được. Chị Vi Thị L có quyền, nghĩa vụ thăm no… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "L -Q"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vi Thị L.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 14 /9/2023.
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HOÁ, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hồng Khánh.

Các hội thẩm nhân dân 1/ Bà Triệu Thị Tình;

2/ Ông Phạm Đức Tuế.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thành Huế - Thư ký Toà án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái nguyên tham gia phiên tòa: Ông Đinh Ngọc Vĩnh - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 52/2023/TLST - HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2023 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2023/QĐXX - ST ngày 11 tháng 8 năm 2023 giữa:

Nguyên đơn: Chị Vi Thị L, sinh năm 1996.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm BB, xã BL, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Nơi ở hiện nay: Thôn Quý Dương, xã Tân Trường, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Anh Lý Ngọc Q, sinh năm 1992.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Xóm BB, xã BL, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 31/3/2023 và quá trình tố tụng giải quyết vụ án nguyên đơn chị Vi Thị L trình bày:

Chị L và anh Lý Ngọc Q đăng ký kết hôn ngày 02/12/2014 tại Ủy ban nhân dân xã BL, huyện Đ. Trước khi kết hôn, chị và anh Q có quen biết và tự nguyện tìm hiểu nhau, được sự đồng ý của hai gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương.

Sau khi kết hôn anh, chị sống tại xóm BB, xã BL, huyện Đ. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc. Mâu thuẫn giữa anh, chị bắt đầu sảy ra từ đầu năm 2017, nguyên nhân anh chị bất đồng quan điểm sống, anh Q thường xuyên uống rượu về nhà lấy cớ chửi mắng chị, anh chị đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng mâu thuận vẫn xảy ra. Anh chị sống ly thân từ cuối năm 2017 đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị cương quyết xin được ly hôn anh Q.

- Về con chung: Chị L xác định vợ chồng có 01 con chung là Lý Ngọc Hân, sinh ngày 12/4/2013. Khi ly hôn chị đề nghị anh Lý Ngọc Q trực tiếp nuôi dưỡng con chung, chị tự nguyện cấp dưỡng nuôi con với mức 1.500.000 đồng/01 tháng đến khi con chung trưởng thành.

- Về tài sản chung và các khoản cho vay, khoản nợ chung: Chị L xác định, chị và anh Q không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía bị đơn anh Lý Ngọc Q tại bản tự khai và biên bản lấy lời khai anh Q trình bày:

Anh và chị L được tự nguyện tìm hiểu nhau có đăng ký kết hôn vào ngày 02/12/2014 tại UBND xã BL, huyện Đ và được hai bên gia đình đồng ý tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương.

Thời gian đầu chung sống hạnh phúc. Đến đầu năm 2017 thì mẫu thuẫn nhỏ trong gia đình giữa anh, chị bắt đầu sảy ra. Nguyên nhân chỉ là những mâu thuẫn nhỏ trong gia đình, vợ chồng bất đồng quan điểm sống về cách nuôi dạy con chung và làm ăn kinh tế gia đình. Anh và chị L sống ly thân từ cuối năm 2017. Nay chị L làm đơn xin ly hôn anh mong muốn chị L suy nghĩa lại để vợ chồng về đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy con chung.

- Về con chung: Anh và chị L có 01 con chung là Lý Ngọc Hân, sinh ngày 12/4/2013. Khi ly hôn anh đề nghị được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung đến tuổi trưởng thành. Anh yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi các con chung.

- Về tài sản chung và các khoản cho vay, khoản nợ chung: Anh Q xác định anh và chị L không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã làm các thủ tục theo quy định của pháp luật, tiến hành hòa giải vợ chồng về đoàn tụ nhưng thành. Vì vậy, vụ án được đưa ra xét xử công khai ngày hôm nay.

Tại phiên tòa, chị L vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, trong đơn chị trình bày cương quyết xin ly hôn; Về con chung: Chị và anh Q có 01 con chung là Lý Ngọc Hân, sinh ngày 12/4/2013. Khi ly hôn chị đồng ý để anh Q trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Chị L tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung với mức 1.500.000 đồng/01 tháng đến khi con chung trưởng thành; Về tài sản chung và các khoản cho vay, khoản nợ chung: Chị L và anh Q không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên phát biểu ý kiến.

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và của nguyên đơn, bị đơn. Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Bị đơn trong quá trình giải quyết, ban đầu anh Q đến Tòa án theo đúng giấy triệu tập, tham gia giải quyết vụ án. Tuy nhiên, kể từ khi Tòa án Quyết định đưa vụ án ra xét xử thì anh Q không đến Tòa án giải quyết mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần.

Về nội dung vụ án: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung khởi kiện của chị Vi Thị L; chị Vi Thị L được ly hôn anh Lý Ngọc Q; Về con chung: Chị L và anh Q có 01 con chung là Lý Ngọc Hân, sinh ngày 12/4/2013. Khi ly hôn, giao cho anh Q trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Ghi nhận việc chị L tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung với mức 1.500.000 đồng/01 tháng đến khi con chung trưởng thành; Về tài sản chung và các khoản cho vay, khoản nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; Về án phí dân sự sơ thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo bản án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ ý kiến đại diện Viện Kiểm sát, ý kiến của nguyên đơn, bị đơn. Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng: Đây là vụ án về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. Bị đơn có nơi cư trú tại huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên theo quy định tại các Điều 28, 35 và 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ bằng biện pháp xác minh, lấy lời khai của đương sự nên việc xét xử có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát theo khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ 2. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị L và anh Lý Ngọc Q kết hôn trên cơ sở tự nguyên, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Đây là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống, giữa chị L và anh Q nảy sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh chị nghi kỵ, nghi ngờ nhau, bất đồng quan điểm sống. Dẫn đến giữa chị L và anh Q thường xuyên có lời nói xúc phạm nhau, xô sát nhau, anh chị đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Nay chị L không còn quan tâm đến anh Q nữa, cương quyết xin được ly hôn Q. Như vậy, cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm đến nhau, xét yêu cầu xin ly hôn của chị L là phù hợp, đúng thực tế cần được chấp nhận.

- Về con chung: Chị L và anh Q có 01 con chung là Lý Ngọc Hân, sinh ngày 12/4/2013. Khi ly hôn chị đề nghị anh Q trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Chị L tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung với mức 1.500.000 đồng/01 tháng đến khi con chung trưởng thành vì hiện nay chị chưa có nơi ở ổn định; cháu Hân cũng đang sống cùng anh Q và cũng phù hợp với yêu cầu của anh Q được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Do đó, cần giao cháu Hân cho anh Q trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp, đảm bảo điều kiện tốt nhất để cháu Hân phát triển về thể chất, tinh thần cũng như điều kiện học tập cho cháu.

- Về tài sản chung và các khoản cho vay, khoản nợ chung: Chị L và anh Q đều xác định không có, không yêu cầu Toà án giải quyết. Vì vậy, không xem xét, giải quyết.

- Về án phí: Chị Vi Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, đúng quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1, khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vi Thị L.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Vi Thị L được ly hôn anh Lý Ngọc Q.

2. Về con chung: Giao cho anh Lý Ngọc Q trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là Lý Ngọc Hân, sinh ngày 12/4/2013 đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi), lao động tự túc được. Chị Vi Thị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Vi Thị L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung Lý Ngọc Hân, sinh ngày 12/4/2013 với mức 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng)/01 tháng cho đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi), lao động tự túc được.

Việc cấp dưỡng nuôi con được thi hành ngay mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi xuất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7a, 7b; Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự

3. Về tài sản chung, khoản có cho vay chung, khoản nợ chung: Chị L và anh Q xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm của người có nghĩa vụ cấp dưỡng:

Chị Vi Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm của người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003051 ngày 19/4/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ. Chị L còn phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm của người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt nguyên đơn, bị đơn báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ