vanban.org

Bản án 18/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con của bà Lương Lai Như T với ông Nguyễn Thành H

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lương Lai Như T được ly hôn với ông Nguyễn Thành H. 2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Bà Lương Lai Như T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung tên Nguyễn Ngọc Như y, sinh ngày 05/5/2011 và Nguyễn Ngọc Như Q, sinh ngày 27/11/2012 cho đến khi các con chung trưởn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lương Lai Như T-Nguyễn Thành H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con của bà Lương Lai Như T với ông Nguyễn Thành H
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DẦU TIẾNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 28-4-2023
V/v ly hôn, tranh chấp về
nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thu Thu;

2. Bà Nguyễn Thị Thông.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trương Quốc Khanh – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 519/2022/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2022 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lương Lai Như T, sinh năm 1987; HKTT: Ấp Đ, xã L, huyện P, tỉnh Bình Dương.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thành H, sinh năm 1973; HKTT: Ấp Đ, xã L, huyện P, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt đến lần thứ hai không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn ngày 10/11/2022, quá trình tố tụng, nguyên đơn bà T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông H chung sống với nhau từ năm 2010. Hôn nhân là tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 23/6/2010 tại Ủy ban nhân xã L huyện Dầu Tiếng, Bình Dương. Thời gian đầu, vợ chồng sống hạnh phúc, những năm gần đây thì phát sinh mâu thuẫn, bất đồng ý kiến, Hiện vợ chồng đã ly thân. Thấy mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, vợ chồng không còn tình cảm nên bà T làm đơn xin được ly hôn với ông H.

- Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc Như Y, sinh ngày 05/5/2011 và Nguyễn Ngọc Như Q, sinh ngày 27/11/2012. Bà T yêu cầu nuôi con chung và yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi hai con mỗi tháng 2.000.000 đồng (mỗi con 1.000.000 đồng).

- Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Chứng cứ nguyên đơn bà T giao nộp: Bản chính đơn xin ly hôn, bản tự khai ngày 10/11/2022; bản sao giấy chứng nhận kết hôn; bản sao giấy khai sinh của con chung.

* Bị đơn ông H:

Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tống đạt, niêm yết để ông H tham gia tố tụng nhưng ông H cố tình vắng mặt mà không có lý do nên không thu thập được ý kiến.

* Xác minh và làm việc của Tòa án:

- Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng đã tiến hành xác minh đối với trưởng ấp Long Điền, xác định: Ông H hay đi làm xa, thỉnh thoảng mới về nhà. Về nguyên nhân mâu thuẫn thì ông không rõ.

- Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng đã tiến hành xác minh đối với người hàng xóm, xác định: Quá trình chung sống, vợ chồng bà T có cự cãi nhau. Ngoài ra, ông H còn hay uống rượu, có lần đe dọa bà T rồi đập phá đồ đạc. Hiện nay, ông H làm nghề tự do, thỉnh thoảng mới về nhà.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng có ý kiến:

Quá trình tố tụng cũng như diễn biến tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đã thực hiện đầy đủ việc tống đạt các văn bản tố tụng cho các bên đương sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn có yêu cầu vắng mặt, bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không lý do. Việc vắng mặt của bị đơn ông H là cố tình nên đề nghị xét xử vắng mặt đương sự theo các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Không kiến nghị khắc phục, bổ sung các thủ tục tố tụng. Quan hệ pháp luật là tranh chấp ly hôn và nuôi con chung. Đề nghị, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về ly hôn, nuôi con chung, cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Từ những tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ. Sau khi nghe lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định,

Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, nguyên đơn bà T có yêu cầu xét xử mặt, bị đơn ông H đã được triệu tập đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng để bị đơn ông H thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia giải quyết vụ án. Việc bị đơn ông H vắng mặt tại phiên tòa là cố tình nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn bà T khởi kiện tranh chấp ly hôn và nuôi con chung đối với bị đơn ông H, ông H có hộ khẩu thường trú tại ấp Đ, xã L, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng và quan hệ pháp luật tranh chấp là “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Theo đơn xin ly hôn, bà T khởi kiện ly hôn với ông H; yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Ngọc Như y và Nguyễn Ngọc Như Q. Bà T yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi hai con mỗi tháng 2.000.000 đồng (mỗi con 1.000.000 đồng). Quá trình tố tụng, bà T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ly hôn, nuôi con chung. Ông H không hợp tác, không tham gia tố tụng giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà T:

Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông H chung sống với nhau từ năm 2010. Hôn nhân là tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 23/6/2010 tại Ủy ban nhân xã L huyện Dầu Tiếng, Bình Dương. Hôn nhân giữa bà T và ông H đã thực hiện đúng thủ tục quy định nên được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Trong thời gian chung sống, bà T và ông H có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do sống chung không hợp, không ai quan tâm, chăm sóc nhau; ông H có hay uống rượu, có lần đập phá đồ đạc, đe đọa bà T; hiện vợ chồng không còn tình cảm, đã sống ly thân. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông H cố tình vắng mặt, điều này thể hiện bị đơn không có thiện chí hòa giải để hàn gắn tình cảm. Thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà T được ly hôn với ông H theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, bà T và ông H có con chung tên Nguyễn Ngọc Như y và Nguyễn Ngọc Như Q. Xét thấy, cháu Ý và cháu Q có nguyện vọng được sống cùng với mẹ nên Hội đồng xét xử giao hai cháu cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng: Bà T yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi hai Nguyễn Ngọc Như Y và Nguyễn Ngọc Như Q mỗi tháng 2.000.000 đồng. Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, thì cha không trực tiếp nuôi con chung có nghĩa vụ cấp dưỡng đối với con chưa thành niên. Ông H không trực tiếp nuôi dưỡng con chung thì H có nghĩa vụ cấp dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi. Căn cứ vào tình hình thực tế với mức sống trung bình tại địa phương thì mức cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi là phù hợp với khả năng kinh tế của ông H nên được chấp nhận.

Về tài sản chung: Bà T xác định tự thoả thuận, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Bà T không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng về quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên tòa cũng như nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật.

Bà T tự nguyện chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Ông H chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân năm 2015;

- Căn cứ vào các Điều 19, 53, 56, 81, 82, 83, 84, 85, 107 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con của bà Lương Lai Như T với ông Nguyễn Thành H

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lương Lai Như T được ly hôn với ông Nguyễn Thành H.

1.2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Bà Lương Lai Như T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung tên Nguyễn Ngọc Như y, sinh ngày 05/5/2011 và Nguyễn Ngọc Như Q, sinh ngày 27/11/2012 cho đến khi các con chung trưởng thành đủ 18 tuổi. Ông Nguyễn Thành H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi. Thực hiện cấp dưỡng nuôi con từ tháng 6/2023.

Sau khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày bà Lương Lai Như T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Nguyễn Thành H không thực hiện việc cấp dưỡng nêu trên, thì hàng tháng ông H còn phải chịu tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

Hai bên được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

1.3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2. Về án phí:

- Bà Lương Lai Như T phải chịu toàn bộ số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số: AA/2021/0011107 ngày 10/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

- Ông Nguyễn Thành H phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp Bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pH thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ