- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Hồng Thắm khởi kiện xin ly hôn với anh Trần Viết Mạnh"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hồng T và anh Trần Viết M.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ TP. CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2023/HNGĐ-ST Ngày: 15-02-2023 V/v Ly hôn giữa chị T và anh M. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Minh Phụng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Vĩnh Khải
2. Ông Phạm Hồng Lưu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Giai Thoại - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Lê Thành Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 249/2022/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2022 về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, nghĩa vụ chung. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 356/2022/QĐXX-ST ngày 23 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm 1995; Trú tại: Ấp 6, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
Bị đơn: Anh Trần Viết M, sinh năm 1985; Trú tại: Ấp 3, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Vào khoảng năm 2013, do quen biết, tìm hiểu, chị Nguyễn Thị Hồng T và anh Trần Viết M tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới theo phong tục và có đăng ký kết hôn theo quy định. Thời gian đầu chung sống tình cảm vợ chồng hạnh phúc nhưng sau này phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tình tình vợ chồng không hợp dẫn đến thường xuyên cự cãi nhau và anh M không quan tâm chăm sóc vợ con nên chị T bỏ nhà đi sống ly thân từ tháng 06/2022 cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng mâu thuẫn đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài được nên chị T xin được ly hôn với anh M.
Về con chung: Có 01 con chung: Cháu Trần Nguyễn Phương T, sinh ngày 28/12/2013, hiện cháu đang chung sống với chị T. Chị T yêu cầu được giành quyền nuôi cháu T đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết giải quyết.
Về nghĩa vụ chung: Không có.
Theo bản tự khai bị đơn anh Trần Viết M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Trước đây, anh Trần Viết M và chị Nguyễn Thị Hồng T quen biết tìm hiểu và tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn ngày 19/11/2013. Vợ chồng chung sống đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẩn là do mục đích hôn nhân không đạt được. Qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị T, anh M đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị T.
Về con chung: Có 01 con chung: Cháu Trần Nguyễn Phương T, sinh ngày 28/12/2013, hiện cháu T đang chung sống với chị T. Anh M đồng ý giao cháu T cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành và không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết giải quyết.
Về nghĩa vụ chung: Không có.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hồng T và anh Trần Viết M.
Về nuôi con chung: Giao cháu Trần Nguyễn Phương T, sinh ngày 28/12/2013 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Ghi nhận chị T không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản chung: Chị T và anh M xác định không có.
Về nghĩa vụ chung: Chị T và anh M xác định không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thẩm tra tại phiên tòa, qua kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: Theo yêu cầu của nguyên đơn thì tranh chấp giữa các bên được xác định là tranh chấp về Ly hôn, về nuôi con chung, chia tài sản khi ly hôn và nghĩa vụ chung. Tòa án thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc tham gia tố tụng: Bị đơn anh Trần Viết M vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ tiến hành xét xử vắng mặt anh M.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân của chị T và anh M được xác lập trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Do đó, có cơ sở xác định hôn nhân giữa chị T và anh M là hợp pháp. Vợ chồng xác định thời gian đầu chung sống, tình cảm vợ chồng hạnh phúc nhưng thời gian gần đây thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẩn là do tình tình vợ chồng không hợp dẫn đến thường xuyên cự cải nhau và anh M không quan tâm chăm sóc vợ con. Từ đó, tình cảm vợ chồng phát sinh mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên vợ chồng sống ly thân với nhau. Thời gian sống ly thân, vợ chồng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Chị T nộp đơn khởi kiện xin ly hôn, Tòa án thụ lý giải quyết thì cũng tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng anh M đều vắng mặt không rõ lý do. Tại phiên tòa, chị T cương quyết xin ly hôn vì xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với anh M, anh M tiếp tục vắng mặt không rõ lý do. Quá trình giải quyết vụ án, anh M cũng đồng ý ly ly hôn theo yêu cầu của chị T. Ngoài ra, theo Biên bản xác minh ngày 28/11/2022 thể hiện: Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng thường xuyên cự cãi nhau về vấn đề tiền bạc. Điều đó chứng tỏ, mâu thuẫn tình cảm vợ chồng giữa chị T và anh M đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chị T xin ly hôn với anh M là có cơ sở nên chấp nhận.
Về nuôi con chung: Có 01 con chung: Cháu Trần Nguyễn Phương T, sinh ngày 28/12/2013, hiện cháu T đang chung sống với chị T. Quá trình giải quyết vụ án, chị T yêu cầu được giành quyền nuôi cháu T đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con. Anh M đồng ý giao cháu T cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành và không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của các đương sự không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên ghi nhận.
Về tài sản chung: Chị T và anh M xác định không có nên không xem xét giải quyết.
Về nghĩa vụ chung: Chị T và anh M xác định không có.
Án phí: Nguyên đơn chị T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Từ những căn cứ trên, việc Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đúng pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227; Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hồng T và anh Trần Viết M.
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Trần Nguyễn Phương T, sinh ngày 28/12/2013 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Ghi nhận chị T không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con.
Dành quyền thăm nom con chung cho anh M, không ai có quyền cản trở. Tuy nhiên, anh M không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Nếu có thì chị T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của anh M.
Vì lợi ích mọi mặt của con khi cần thiết có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
3. Về chia tài sản chung: Chị T và anh M xác định không có nên không xem xét giải quyết.
4. Về nghĩa vụ chung: Chị T và anh M xác định không có.
5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Hồng T phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0009578 ngày 02 tháng 11 năm 2022 thành tiền án phí. Công nhận chị T đã nộp xong.
6. Án tuyên công khai, có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ xét xử theo trình tự phúc thẩm.
7. Trường hợp, bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7 a, Điều 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP Cần Thơ; - VKSND huyện Cờ Đỏ; - Chi cục THADS huyện Cờ Đỏ; - UBND xã Thạnh Phú; - Đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Võ Minh Phụng |