- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mai Thị T về việc yêu cầu ly hôn đối với bị đơn ông Võ Minh H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2023/HNGĐ-ST Ngày: 15-02-2023 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thủy Tiên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Ngô Hồng Điệp.
2. Ông Nguyễn Minh Tân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Lệ Trinh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C.
Ngày 15 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 628/2022/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2022 về Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Mai Thị T, sinh năm: 1989 (có mặt);
Nơi ĐKHKTT: Ấp A, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
Chỗ ở hiện nay: khóm B, phường A, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp.
2. Bị đơn: Ông Võ Minh H, sinh năm: 1989 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp A, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 20/5/2022, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Mai Thị T trình bày:
Bà T và ông H tổ chức lễ cưới vào năm 2011, có thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã P và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 13/2012, quyển số 01/2012, ngày 13/02/2012. Hôn nhân của vợ chồng bà là do tự nguyện tìm hiểu và tiến tới hôn nhân. Sau khi cưới nhau, bà T và ông H cùng đi làm và sinh sống ở Thành phố Hồ Chí Minh. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không còn phù hợp trong cuộc sống. Vợ chồng đã tìm cách hàn gắn nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Bà T nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể hàn gắn được nữa, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu ly hôn với ông H.
Về nuôi con chung: bà T và ông H chung sống có 01 người con chung tên Võ Chí B, sinh ngày 17/6/2012, hiện đang sống chung với ông H. Bà T yêu cầu ông H tiếp tục nuôi dưỡng cháu B và bà không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: bà T xác định bà và ông H không có tài sản chung và không có nợ chung.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Võ Minh H. Ông H không có ý kiến phản hồi về yêu cầu của bà T, không nộp tài liệu, chứng cứ và cũng không đến Tòa án tham gia giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Bà Mai Thị T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Võ Minh H, ông H có nơi cư trú tại xã P, huyện C, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện C thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Ông Võ Minh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt ông H.
Về nội dung tranh chấp:
Về hôn nhân: bà Mai Thị T và ông Võ Minh H có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã P cấp giấy chứng nhận kết hôn số 13/2012, quyển số 01/2012, ngày 13/02/2012, nên xác định hôn nhân giữa bà T và ông H là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Bà T trình bày, sau khi cưới nhau, bà T và ông H cùng đi làm và sinh sống ở Thành phố Hồ Chí Minh. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không còn phù hợp trong cuộc sống. Vợ chồng đã tìm cách hàn gắn nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Đối với ông H, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông H nhưng ông H không có ý kiến phản hồi và cũng không đến Tòa án tham gia giải quyết vụ án. Điều này chứng tỏ ông H không có thiện chí hàn gắn tình cảm với bà T. Tại phiên tòa, bà T vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông H. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T và ông H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông H.
Về nuôi con chung: bà T và ông H chung sống có 01 người con chung tên Võ Chí B, sinh ngày 17/6/2012. Bà T yêu cầu ông H nuôi dưỡng cháu B. Ông H không có ý kiến phản hồi đối với vấn đề này. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Võ Chí B hiện đang sống chung với ông H, cuộc sống đã ổn định và cháu B có nguyện vọng được tiếp tục chung sống với ông H. Điều này phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T, giao con chung cho ông H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Ông H không có yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà T trình bày bà và ông H không có tài sản chung, không có nợ chung. Ông H không có ý kiến phản hồi về vấn đề này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bà T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 85 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mai Thị T về việc yêu cầu ly hôn đối với bị đơn ông Võ Minh H.
1. Về hôn nhân: bà Mai Thị T được ly hôn với ông Võ Minh H.
2. Về nuôi con chung: giao cho ông Võ Minh H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Võ Chí B, sinh ngày 17/6/2012. Bà Mai Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, cha mẹ có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về án phí: Bà Mai Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp theo biên lai thu số 0004752 ngày 12 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, bà T đã nộp đủ.
4. Về quyền kháng cáo bản án sơ thẩm: đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện C; (1) - THADS huyện C; (1) - UBND xã P; - Các đương sự; (1) - Lưu hồ sơ, lưu án văn; (2) (2) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM (1) THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thủy Tiên |