vanban.org

Bản án 18/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vi Thị X.

Chị Vi Thị X được ly hôn với anh Lý Văn N. Về con chung: Giao cháu Lý Ngọc Bảo A, sinh ngày 19/6/2017 cho chị Vi Thị X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn giữa chị Vi Thị X và anh Lý Văn N"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vi Thị X.
  • Căn cứ chính? Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẨM MỸ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số:18/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 14-4 - 2023
“V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Thức

Ông Phạm Văn Thành

- Thư ký phiên tòa: Anh Nguyễn Xuân Dương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ xét xử sơ thẩm công khai vụ án HNGĐ thụ lý số: 489/2022/TLST- HNGĐ ngày 22/11/2022 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:10/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 10/3/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10 ngày 27/03/2023 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Vi Thị X, sinh năm 1998.

* Bị đơn: Anh Lý Văn N, sinh năm 1996.

ĐKTT: Tổ A, ấp B, xã S, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.

(Chị X có đơn xin xét xử vắng mặt, anh N vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai và lời khai có trong hồ sơ, nguyên đơn chị Vi Thị X trình bày:

Chị và anh Lý Văn N tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2017 tại UBND xã S, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.

Vợ chồng có 01 con chung là cháu Lý Ngọc Bảo A, sinh ngày 19/6/2017.

Sau khi kết hôn vợ chồng sống cùng gia đình chồng, chị làm công nhân còn anh làm tại trại heo, kinh tế đủ sống. Năm 2018, khi kinh tế gia đình chồng gặp biến động, anh chị thuê nhà trọ ở riêng, kinh tế khó khăn, phát sinh mâu thuẫn. Anh ham chơi, không lo làm ăn, mọi sinh hoạt trong gia đình do chị gánh vác, thêm vào đó anh ghen tuông vô cớ nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Gia đình hai bên có hàn gắn nhưng không có kết quả. Từ tháng 7/2019 chị đã đưa con về nhà cha mẹ ruột sống.

Khoảng thời gian ly thân, anh có thăm con vài lần, từ hai năm nay, anh không thăm con cũng như không cấp dưỡng nuôi con. Chị không còn tình cảm với anh nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh N.

Khi ly hôn, chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lý Ngọc Bảo A, sinh ngày 19/6/2017, không yêu cầu anh góp phí tổn nuôi con. Tài sản chung và nợ chung: Không có.

* Bị đơn anh Lý Văn N đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên không có lời khai.

* Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ:

Bản tự khai; căn cước công dân, sổ hộ khẩu (bản sao chứng thực); giấy khai sinh của con chung (bản sao); giấy đăng ký kết hôn (bản chính); các biên bản lấy lời khai, biên bản xác minh; đơn xin không hòa giải; đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

* Quan điểm của Viện kiểm sát huyện Cẩm Mỹ: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà sơ thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký đều làm đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo tố tụng và có đơn đề nghị giải quyết và xét xử vắng mặt; bị đơn không hợp tác nên HĐXX tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

Về nội dung: Anh chị chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh N không lo làm ăn, không có trách nhiệm với gia đình. Gia đình hai bên khuyên can nhưng anh không có kết quả. Chị X yêu cầu ly hôn, anh N được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt, không có ý định hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Áp dụng Điều 56, 57– Luật Hôn nhân và gia đình 2014, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị X ly hôn với anh N; về con chung giao cháu Lý Ngọc Bảo A, sinh ngày 19/6/2017 cho chị X chăm sóc, nuôi dưỡng; chị X không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra giải quyết; về tài sản chung và nợ chung: không có nên không xem xét giải quyết.

Kiến nghị khắc phục vi phạm: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật: chị Vi Thị X khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Lý Văn N, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên đây là vụ án "Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” theo khoản 1, Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Lý Văn N có hộ khẩu thường trú tại xã S, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 35, điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ.

Về thủ tục tố tụng: nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp.

Về quan hệ hôn nhân: chị Vi Thị X và anh Lý Văn N có đăng ký kết hôn tại UBND xã S vào năm 2017, đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị X nhận thấy:

Chị X khai cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc do anh không lo làm ăn và không có trách nhiệm với gia đình. Kinh tế khó khăn nhưng anh không thay đổi và cách đây hai năm anh chị không chung sống cùng nhau nữa. Chị không còn tình cảm với anh, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu ly hôn.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, anh N không đến, bỏ mặc mối quan hệ hôn nhân này.

Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, sống chung với nhau nhưng anh chị không ở cùng nhau từ năm 2019, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ quy định tại Điều 51, 56, 57 - Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị X.

Về con chung: chị X yêu cầu trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lý Ngọc Bảo A, sinh ngày 19/6/2017 do từ khi anh chị không ở cùng nhau, cháu A do chị nuôi dưỡng. Chị X không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung không có, nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: chị X phải chịu án phí sơ thẩm về ly hôn.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39; Điều 147; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 – Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vi Thị X.

Chị Vi Thị X được ly hôn với anh Lý Văn N.

- Về con chung: Giao cháu Lý Ngọc Bảo A, sinh ngày 19/6/2017 cho chị Vi Thị X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Tạm thời, anh N không cấp dưỡng nuôi con.

Anh N được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được ngăn cản. Vì lợi ích của trẻ khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự khai không có nên không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Chị Vi Thị X phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí chị X đã nộp sang án phí (Biên lai số 0001650 ngày 21/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ).

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Cỡ chữ