- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Hồng A.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2023/HN-ST Ngày: 12/01/2023 V/v “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Cẩm Tiên.
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Trần Văn Bé Ba
+ Ông Nguyễn Quốc Thuần
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Huỳnh Thanh Tân – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân thụ lý số 426/2022/TLST-HN ngày 14/10/2022 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 214/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 210/2022/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị Hồng A – sinh năm: 1990
Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện X, Tiền Giang.
2. Bị đơn: Nguyễn Thanh B - sinh năm 1990
Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện X, Tiền Giang.
(Chị A có mặt; anh B vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng A trình bày: chị và anh Nguyễn Thanh B sống chung năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N. Quá trình chung sống hạnh phúc thời gian đầu đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẩn do anh B không quan tâm đến vợ con, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không còn hạnh phúc. Nhận thấy tình cảm không còn, không thể hàn gắn nên chị yêu cầu ly hôn với anh B.
- Về con chung: có 01 cháu tên Nguyễn Nhật Trường C, sinh ngày 6/7/2014 hiện đang sống với chị, ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con và yêu cầu anh B cấp dưỡng theo quy định pháp luật.
- Về tài sản chung: không có.
- Về nợ chung, nợ riêng: không có.
* Bị đơn anh Nguyễn Thanh B vắng mặt.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân thủ đúng quy định pháp luật. Trừ bị đơn không chấp hành đúng các quy định về thủ tục tố tụng mặc dù đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Hồng A. Về con chung: giao cháu Nguyễn Nhật Trường C, sinh ngày 6/7/2014 cho chị A trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Anh B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000 đồng cho đến khi cháu C đủ 18 tuổi, đủ sức khỏe lao động được. Về tài sản chung, nợ chung, nợ riêng: không có nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra cũng như tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Chị Nguyễn Thị Hồng A và anh Nguyễn Thanh B sống chung năm 2011 và anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện Chợ Gạo. Nay chị A yêu cầu ly hôn với anh B và anh B hiện cư trú trên địa bàn huyện Chợ Gạo nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn anh Nguyễn Thanh B mặc dù được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh B theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Xét đơn yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Hồng A, Hội đồng xét xử nhận thấy: Về tình cảm: chị A yêu cầu ly hôn với anh B. Nguyên nhân ly hôn theo chị A trình bày là do anh B không quan tâm đến vợ con, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không còn hạnh phúc. Chị và anh B ly thân từ năm 2018 đến nay. Trong quá trình ly thân, anh chị không có biện pháp nào hàn gắn với nhau. Bị đơn anh Nguyễn Thanh B vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, anh không đến trình bày ý kiến và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn của chị A, điều này chứng tỏ anh không còn thiết tha gì đến tình cảm vợ chồng cũng như xây dựng hạnh phúc gia đình với chị A. Do đó đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị A anh B không thể cùng chung sống để xây dựng gia đình hạnh phúc nên chị A yêu cầu ly hôn với anh B là có căn cứ.
Về con chung: có 01 cháu tên Nguyễn Nhật Trường C, sinh ngày 6/7/2014 hiện đang sống với chị A. Ly hôn chị A yêu cầu được tiếp tục nuôi con. Hội đồng xét xử thấy rằng cháu Trường C hiện đang sống ổn định với chị A và tại bản tự khai cháu cũng có nguyện vọng là sống với mẹ nên tiếp tục giao cháu C cho chị A nuôi dưỡng.
Về vấn đề cấp dưỡng: Theo đơn ly hôn, chị A yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng, nay chị thay đổi yêu cầu là yêu cầu anh B cấp dưỡng theo quy định pháp luật. Anh B vắng mặt, không có ý kiến gì đối với yêu cầu cấp dưỡng của chị A nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị A là buộc anh B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu C với mức cấp dưỡng là ½ mức lương tối thiểu (½ mức lương tối thiểu tại thời điểm xét xử là 745.000 đồng/ tháng) cho đến khi cháu C tròn 18 tuổi, lao động được.
Về tài sản chung, nợ chung, nợ riêng: chị A trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp một phần nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận một phần đề nghị của Viện kiểm sát.
Về án phí: chị A phải chịu án phí theo quy định. Anh B phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng các khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Hồng A.
[1] Về tình cảm: chị Nguyễn Thị Hồng A được ly hôn với anh Nguyễn Thanh B.
[2] Về con chung: Giao cháu Nguyễn Nhật Trường C, sinh ngày 6/7/2014 cho chị Nguyễn Thị Hồng A tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Thanh B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu C với mức cấp dưỡng là ½ mức lương tối thiểu (½ mức lương tối thiểu tại thời điểm xét xử là 745.000 đồng/ tháng) cho đến khi cháu C tròn 18 tuổi, lao động được. Thời gian cấp dưỡng khi án có hiệu lực pháp luật.
Không ai được quyền ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung sau khi ly hôn.
[3] Về tài sản chung, nợ chung, nợ riêng: không có.
[4] Về án phí: chị Nguyễn Thị Hồng A phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0025105 ngày 10/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo nên chị đã nộp xong.
Anh Nguyễn Thanh B phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự./.
| * Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện Chợ Gạo; - Chi cục THADS huyện Chợ Gạo; - UBND xã N; - Ñöông söï; - Löu hoà sô, án văn; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Cẩm Tiên |